“Có Chúa ở cùng” | Jer. Nguyễn Văn Nội

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM A (14/05/2017)
[Cv 6,1-7; 1 Pr 2,4-9
; Ga 14,1-12]

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Mỗi khi được nghe/đọc tin tức về những người bị bắt, bị đánh đập và giam cầm một cách bất công, vô tội, tôi không khỏi thắc mắc tự hỏi làm thế nào và nhờ ai mà họ chịu đựng được cảnh tra tấn đòn roi dã man như thế.

Câu trả lời là “Có Trời chứng dám cho sự oan uổng bất công của họ!”, “Có Chúa ở cùng họ trong ngục tù, nhà giam!”.

Sự thật này đã được chứng minh trong lịch sử It-ra-en và lịch sử Giáo hội Công giáo. Vào thời Xuất Hành (khoảng 1250 năm trước Công Nguyên) dân Ít-ra-en chỉ là một bộ lạc nhỏ bé sống dưới chế độ nô lệ Ai-cập là một cường quốc giầu mạnh. Nhưng điều mà dân Ít-ra-en hãnh diện, điều làm nên căn tính, phẩm giá và hạnh phúc của dân Ít-ra-en là có Thiên Chúa ở cùng! Hơn thế nữa Thiên Chúa của Ít-ra-en là Đấng Thiên Chúa luôn đi cùng với dân; luôn sống bên cạnh dân; thấy hết những gì làm cho dân khổ sở cơ cực và luôn lắng nghe tiếng kêu than của dân.

Căn tính, phẩm giá và hạnh phúc của dân Ít-ra-en cũng là căn tính, phẩm giá và hạnh phúc của dân Ki-tô giáo. Càng ngày người công giáo càng trở thành thiểu số và bị bách hại nhiều nhất trong các thành phần dân chúng. Nhưng người công giáo có căn tính, phẩm giá và hạnh phúc riêng là có Thiên Chúa ở cùng, “Em-ma-nu-en.”

Trong Bài Tin Mừng Chúa Nhật V Phục Sinh Năm A hôm nay, chúng ta được nghe chính Chúa Giê-su khẳng định: “Thày ở đâu, anh em cũng ở đó!”

Mỗi người Ki-tô hữu có quyền tự hỏi: tôi có cảm thấy mình hạnh phúc về việc luôn có Chúa ở cùng không?

 II. LẰNG NGHE/ĐỌC LỜI CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

2.1 Trong bài đọc 1 (Cv 6,1-7): Họ chọn bảy người đầy Thánh Thần.

1 Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do Thái theo văn hóa Hy Lạp kêu trách những tín hữu Do Thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. 2 Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. 3 Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. 4 Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.” 5 Đề nghị trên được mọi người tán thành. Họ chọn ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do Thái. 6 Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.

7 Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giê-ru-sa-lem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.

2.2 Trong bài đọc 2 (1 Pr 2,4-9):
Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả.

4 Anh em hãy tiến lại gần Đức Ki-tô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. 5 Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giê-su Ki-tô. 6 Quả thật, có lời Kinh Thánh chép: Này đây Ta đặt tại Xi-on một viên đá quý được lựa chọn, làm đá tảng góc tường: kẻ tin vào đó sẽ không phải thất vọng.

7 Vậy vinh dự cho anh em là những người tin, còn đối với những kẻ không tin, thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, 8 và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã. Họ đã vấp ngã vì không tin vào Lời Chúa. Số phận của họ là như vậy.

9 Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.

2.3 Trong bài Tin Mừng (Ga 14,1-12):
Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.

 1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. 2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. 3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. 4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

 5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” 6 Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. 7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

 8 Ông Phi-líp-phê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 9 Đức Giê-su trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha”? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. 11 Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân Dung (Thiên Chúa là Đấng nào?):
Trong ba bài Sách Thánh hôm nay chúng ta khám phá Thiên Chúa:

– Là Thiên Chúa Cha, Đấng đã ban Thánh Thần cho các Tông đồ và các tín hữu đầu tiên khiến mỗi ngày cộng đoàn một phát triển. Nhờ có Thánh Thần, các Tông Đồ đã khôn ngoan chọn lựa các “cộng sự viên” (là các phó tế) để trong cộng đoàn ai nấy đều được chăm lo chu đáo cả về phần hồn lẫn về phần xác.

– Là Thiên Chúa Cha, Đấng đã quy tụ các Ki-tô hữu và lập thành một dân tư tế, vương giả, một dân riêng của Thiên Chúa khiến họ trở nên nòi giống được tuyển chọn và được hiến dâng cho Thiên Chúa như của lễ toàn thiêu.

– Là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã mạc khải cho các môn đệ (và chúng ta) biết Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống; Người là hình ảnh của Thiên Chúa Cha; là Đấng gần gũi, mật thiết, rất giống với Thiên Chúa Cha và ở trong Chúa Cha, Vì thế ai thấy Người là thấy Thiên Chúa Cha; ai đến với Người là đến với Thiên Chúa Cha; ai kết hợp với Người là kết hiệp với Thiên Chúa Cha. Người cũng nói cho các môn đệ (và chúng ta) biết là họ (và chúng ta) chẳng có gì phải lo sợ, buồn sầu và xao xuyến vì “Thày ở đâu, anh em cũng ở đó!”

– Là Chúa Thánh Thần, Đấng luôn ở bên cạnh Chúa Cha và Chúa Con, Đấng luôn hiện diện và hành động trong cộng đoàn tín hữu, nhất là trong những người lãnh đạo của cộng đoàn ấy.

3.2 Sứ Điệp Lời Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay muốn chúng ta làm gì?): Qua ba bài Sách Thánh hôm nay, giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa gồm hai phần:

* Phần thứ nhất liên quan tới mầu nhiệm của Chúa Giê-su Ki-tô: Chúa Giê-su Ki-tô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, là một với Thiên Chúa Cha, là nền tảng của Hội Thánh là Dân Chúa.

* Phần thứ hai liên quan tới căn tính, phẩm giá và hạnh phúc của các Ki-tô hữu: Các Ki-tô hữu là những người được tuyển chọn, được dành riêng cho Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa (tức được thánh hiến cho Thiên Chúa) và luôn có Thiên Chúa ở cùng! Các Ki-tô hữu còn là những viên đá sống động của Đền Thờ Thiên Chúa.

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Ý thức và cảm nghiệm về căn tính, phẩm giá và hạnh phúc lớn lao của mình trong cương vị  là Ki-tô hữu.

Chúng ta tự kiểm xem tư tưởng, lời nói, việc làm và cách sống của mình có tương xứng với căn tính, phẩm giá và hạnh phúc của những người được Thiên Chúa tuyển chọn, dành riêng, thánh hiến…. không?

4.2 Nhìn nhận và đi sâu (thông hiệp) vào Mầu nhiệm của Chúa Giê-su Ki-tô.

Chúng ta tự kiểm xem mình đã biết về Chúa Giê-su Ki-tô như thế nào, đã sống và đối xử với Người như Người đã mạc khải cho chúng ta biết không?

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”  Chúng ta hãy cầu nguyện cho các dân, các nước, nhất là cho những người chưa nhận biết Chúa Giê-su Ki-tô là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống và là Đấng dẫn mọi người đến với Thiên Chúa, để họ tin nhận Người.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

5.2 “Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người.” Chúng ta hãy cầu nguyện cho toàn thể Hội Thánh Chúa Ki-tô – nhất là cho Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ -, để mọi Ki-tô hữu nhận thức và cảm nghiệm được căn tính, phẩm giá và hạnh phúc lớn lao của mình mà cảm tạ Thiên Chúa và sống  xứng đáng với ơn huệ mà Thiên Chúa đã ban!

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

5.3 “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” Chúng ta hãy cầu nguyện cho giáo dân của giáo xứ/cộng đoàn/cộng đồng chúng ta, nhất là cho những người đang sống trong lo âu, xao xuyến vì những khó khăn, thử thách của cuộc đời, để họ cảm nghiệm được sự hiện diện gần gũi, tấm lòng thông cảm và sự chăm lo chu đáo của Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”!

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

5.4 “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người gặp tai ương, hoạn nạn, chiến tranh và thiên tai, để họ vững tin vào tình thuơng và quyền năng của Thiên Chúa.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
Sài-gòn ngày 04/05/2017

CHIA SẺ