“Hãy lắng tiếng nói”

Chuyện phiếm đọc trong tuần 10 mùa thường niên

nguyencau

“Hãy lắng tiếng nói”

vang trong tâm hồn mình người ơi”
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối.
Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài,
Và hồn tôi mang vết thương vết thương trần ai.”
(Lê Minh Bằng – Đêm Nguyện Cầu)

(Mt 6: 5-8)

“Lắng tiếng nói” ư, dễ chừng được bao lâu? Kéo dài bao nhiêu lần trong ngày? Chắc là, ta không thể lắng thế mãi suốt mọi ngày trong tuần, được phải không? Bởi, có làm thế thì thế-gian này rồi cũng sẽ phong cho người ấy/vị ấy là thánh-nhân, mất thôi.

Ấy kìa, người nghệ-sị lại hát thêm câu ca da-diết, những là: “Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối”…Ôi thôi! Một sự thật ở trong đời. Nhưng, vấn-đề là hỏi rằng: hôm nay, bạn và tôi, ta có tìm ra con tim hay “chim” nào được như thế, không. Đó, mới là chuyện khó. Khó thấy và khó làm.   

À thì ra, nghệ sĩ mình có viết như thế, cũng chỉ để vinh-danh các thân-hào/nhân-sĩ hoặc chiến-hữu từng thấy những là: “hồn tôi mang vết thương, vết thương trần-ai!”… Thế mới biết, chiến-hữu hôm ấy và dân con nhà Đạo bây giờ, đã biết “chắp tay nguyện-cầu” cho đất nước, cho người khác và cả cho mình, như sau:

“Thượng Đế hỡi!
có thấu cho Việt Nam này,
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi!
hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.”
(Lê Minh Bằng – bđd)

Vâng. Thoạt khi “rưng rưng tôi chắp tay nghe hồn khóc đến rướm máu”, là lúc mà: người chiến-hữu và/hoặc dân con nhà Đạo bắt đầu nguyện-cầu Thuợng-Đế cho dân mình và mọi người được hạnh-phúc sống chức-năng con người mình, thật rất đúng.

Vâng. Đó chính là ý-nghĩa và mục-đích của động-thái nguyện-cầu nơi dân con Đạo Chúa, xưa và nay, như đấng bậc nhà Đạo chuyên-trách mục hỏi/đáp giáo-luật/phụng-vụ trên báo Đạo “The Catholic Weekly” từng đáp-trả về sự/việc tín-hữu trong Đạo xưa/nay, hằng ngày vẫn có thời-giờ nguyện-cầu, rất như sau:   

“Sách Công-vụ Tông-đồ ở đoạn 3 câu 1, vẫn từng bảo: “Một hôm, ông Phêrô và ông Gioan lên Đền Thờ, vào buổi cầu giờ thứ chín.” Và sau đó, cũng ở sách này, lại thấy qui-chiếu đoạn 10 câu 9, những quả-quyết: “Hôm sau, đang khi họ đi đường và đến gần Gia-phô, thì ông Phêrô lên sân thượng cầu nguyện; lúc đó, vào khoảng giờ thứ sáu.”

Xem thế thì, giờ thứ sáu là đúng vào giờ ngọ, tức: 12 giờ trưa, còn giờ thứ chín là đúng ba giờ chiều. Còn giờ thứ ba, là 9 giờ sáng. Như thế, ta có thể mường-tượng ra rằng: giờ cầu-nguyện được tính như thế là rút từ thời-khoá-biểu nguyện cầu của Do-thái-giáo, ở thời trước.

Truyền-thống Do-thái-giáo từng chép rằng: Tổ-phụ Abraham, Isaác và Giacóp đã dẫn-nhập thói-tục nguyện cầu những ba lần trong một ngày, vào giờ giấc nói rõ như trên. Và, tổ-phụ Abraham lại đề-nghị thêm một buổi cầu-nguyện vào ban sáng. Trong khi đó, ông Isaác lại đề-nghị con dân trong Đạo hãy nguyện cầu vào buổi xế; và ông Giacóp đề-nghị bà con ta cầu-nguyện vào ban đêm.

Thêm vào đó, mỗi đấng tổ-phụ lại có tính đặc-thù hoặc phẩm-chất tư-riêng khiến người Do-thái-giáo quyết phải sống đích-thực đời mình trong nguyện-cầu. Tổ-phụ Abraham phụng-sự Thượng Đế với lòng thương-yêu, tử-tế, rất trìu-mến. Ông Isaác lại chủ-trương sống đời công-chính, kính-trọng. Còn ông Giacóp lại thực-thi cuộc sống bằng tất cả sự thật và lòng từ-bi. Thế nên, người Do-thái-giáo dạy con khuyên cháu hãy phụng-sự Thiên-Chúa và cầu-nguyện lên Ngài bằng tất cả tình yêu thương, kính-trọng và lòng nhân-hậu.

Vào thế-kỷ thứ nhất sau Công nguyên, sau khi chấp-nhận luật Torah qua ông Môsê, cá-nhân người theo Đạo Do-thái-giáo đều nguyện-cầu vào bất cứ thời-gian nào trong ngày, ngay tại đền thờ Giêrusalem. Đền thờ này, vẫn định giờ giấc để dân con mọi người có thể thực-hiện việc cúng-tế và nguyện-cầu. Cúng-tế, được tổ-chức vào buổi sáng và xế chiều có khi kéo dài vào ban đêm, nữa. Và, vào những ngày đặc-biệt, lại có thêm nhiều buổi cúng-tế dâng tiến Chúa. Nhiều người Do-thái-giáo còn cầu-nguyện ba lần trong ngày, vào giờ trên.

Vua Đavít có ghi trong thánh-vịnh 53 câu 17-18 và dạy rằng: “Phần tôi, tôi kêu khấn Chúa Trời, Chúa sẽ thương cứu độ. Sớm trưa chiều, tôi than sầu rên rỉ, Người sẽ nghe tiếng tôi.”

Và, vào thời lưu-lạc ở Babylon vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, tiên-tri Đaniên cũng từng viết: “Phần tôi, tôi kêu khấn Chúa Trời, Chúa sẽ thương cứu độ. Sớm trưa chiều, tôi than sầu rên rỉ, Người sẽ nghe tiếng tôi.” (Đn 6-11-12)…

Ở Giáo-hội thời đầu, các thánh tông-đồ cũng tiếp-tục nguyện-cầu vào giờ giấc kể ở trên, tức ba lần trong ngày. Đặc-biệt, thánh Phêrô và thánh Gioan cũng làm thế. Sách Điđakê, cũng có kể chuyện này xảy ra vào cuối thế-kỷ thứ nhất, sau Công nguyên.

Đến thế-kỷ thứ hai và ba, các tác-giả như thánh Clêmentê ở Alexandria, thánh Origênê và Tertuliô có viết rằng: việc nguyện-cầu được các thánh-thực-hiện sáng/chiều vào giờ thứ ba, thứ sáu và thứ chín.

Vào thế-kỷ thứ tư, Hiến-chế Tông-đồ có khuyên: “Hãy dâng lời cầu-nguyện của các người vào buổi sáng, giờ thứ ba, thứ sáu và thứ chín, cả vào buổi chiều và vào lúc gà gáy nữa.” (X. đoạn VIII, câu iv, 34)

Những ai có thói quen dự các Giờ Kinh Phụng-vụ hoặc đọc Kinh Thần-vụ sẽ thấy rằng đấy là giờ giấc thích-hợp cho việc hát thánh-vịnh và đọc sách thánh. Theo cách này, Giáo Hội Chúa, ngang qua các thừa-tác-viên và những vị dâng mình vào cuộc sống thánh-hiến, sẽ sống thực điều mà thánh Phaolô từng khuyên-nhủ như thánh-nhân có viết thư gửi cộng-đoàn Thessalônikê, những lời sau đây: “Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (X. Lm John Flader, Did early Christians have regular times of the day to pray?, The Catholic Weekly, Question Time 24/4/2016, tr.22)

Dân con nhà Đạo thời xa/xưa, nguyện-cầu thì như thế. Nhưng hỏi rằng: có cần cầu-nguyện gồm lời lẽ suy-tư đầy tiếng khóc khóc đến rướm máu, như tiên-tri Đaniên, thánh Clêmentê, Origiênê hoặc như nghệ-sĩ ngoài Đạo từng tâm-sự như sau không?

“Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu.
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù,
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm ngàn ưu sầu.”
Lê Minh Bằng – bđd)

Nói khác đi, thì người cầu-nguyện Thượng-Đế có tiếng khóc đến rướm máu, có sống-thực lời cầu mình dâng lên không?

Nói cách khác, sống đạo là thế nào? Và cầu-nguyện phải ra sao? Sống-Đạo-nguyện-cầu chuyện vãn với Đức Chúa có buộc phải thế không? Hay, ta còn nhiều cách khác chứng-tỏ mình là “con nhà có Đạo” rất đạo-hạnh và tin-tưởng?

Trả lời cho câu hỏi này, xem ra cũng hơi khó. Khó, ở chỗ: mỗi người sống mỗi khác. Mỗi vị đều có nhân-sinh-quan đạo-hạnh, cũng khác nhau.

Nếu cứ hiểu ý-nghĩa và mục-đích đích-thực của việc nguyện-cầu và tin-tưởng vào Đức Chúa, Đấng mà xưa nay mình vẫn tin và thờ, chắc hẳn có người cũng sẽ “khóc thét” lên với nghệ-sĩ sáng-tác bài hát ở trên, mà hát thêm rằng:

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu,
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình,
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?”
(Lê Minh Bằng – bđd)

Nói cho cùng, chuyện nguyện-cầu và tin tưởng, cũng tùy mình/tùy người và mỗi chư vị trong Đạo. Có lẽ, điều nên làm lúc này là ta cùng nhau đi vào vùng trời Lời của Chúa để nghe lại những lời dặn-dò hôm trước còn vang vọng như sau:

“Khi cầu nguyện,
anh em đừng làm như bọn đạo đức giả:
chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường,
hoặc ngoài các ngã ba ngã tư,
cho người ta thấy.
Thầy bảo thật anh em:
chúng đã được phần thưởng rồi.
Còn anh, khi cầu nguyện,
hãy vào phòng, đóng cửa lại,
và cầu nguyện cùng Cha của anh,
Đấng hiện diện nơi kín đáo.
Và Cha của anh,
Đấng thấu suốt những gì kín đáo,
sẽ trả lại cho anh.”

(Mt 6: 5-7)

“Khi cầu nguyện,
anh em đừng lải nhải như dân ngoại;
họ nghĩ rằng:
cứ nói nhiều là được
nhận lời.
Đừng bắt chước họ,
vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì,
trước khi anh em cầu xin.”
(Mt 6: 8)

Vâng. Nguyện-cầu trong tin-tưởng, vẫn phải như thế. Và, sống niềm tin có cầu nguyện trong thinh-lặng, cũng như vậy. Như thế và như vậy, càng hiện rõ hơn bằng giòng chảy đầy kể lể những câu truyện hoặc những nhận-định thân thương, nhè nhẹ, đầy tâm-huyết.

Kể, là kể cho nhau những câu truyện ngăn ngắn để thưởng-thức những giây phút vui-tươi, buồn cười cho qua ngày đoạn tháng như một lời cầu cho mình và cho nhau như sau:

Truyện, là thế này:

Thuở xưa có chàng trai nọ con một vị Bà la môn Ấn Độ sống dưới triều vua Pasenadi (Ba Tư), kinh thành Xá Vệ, thuộc vương quốc Kosala. Tên của chàng là Ahimsaka (người thất bại). Chàng được gởi đến thành phố Taxila để học hành. Ahimsaka rất thông minh và biết vâng lời thầy, nên chàng được cả thầy lẫn bà vợ thầy yêu mến. Điều này đã khiến cho các học viên khác ganh tỵ với chàng. Vì thế họ tìm đến thầy giáo và vu cáo Ahimsaka có mối quan hệ bất chính, trái đạo lý với bà vợ của thầy. Thoạt tiên, vị Thầy không tin họ; nhưng sau khi nghe điều đó lập đi lập lại nhiều lần, ông nghĩ rằng đó là sự thật và thề sẽ trả thù Ahimsaka.

Ông thầy nghĩ rằng việc giết người học trò sẽ gây tai tiếng, sẽ ảnh hưởng xấu đến bản thân ông. Cơn giận dữ thúc giục ông đã đưa ra mệnh lệnh giết người, một việc không thể tưởng tượng nổi đối với chàng thanh niên Ahimsaka trẻ tuổi và ngây thơ kia.

Ông ta bảo cậu học trò phải giết một ngàn người và mang về ngón tay cái của từng người để trả học phí.

Cố nhiên chàng thanh niên không muốn nghĩ đến một việc kinh khủng như vậy và từ chối không theo mệnh lệnh kia. Vì thế chàng đã bị tống cổ ra khỏi nhà thầy và trở về với gia đình cha mẹ.

Khi cha chàng biết được tại sao Ahimsaka đã bị đuổi, người cha vô cùng tức giận về đứa con của mình và không chịu nghe lời giải thích của con.

Cũng chính trong ngày ấy, lúc trời đang đổ mưa như trút nước, người cha xua đuổi Ahimsaka ra khỏi nhà. Ahimsaka chạy đến mẹ chàng và xin lời khuyên. Nhưng bà cũng không thể chống lại quyết định của chồng.Sau đó Ahimsaka tìm đến nhà vị hôn thê của chàng theo cổ tục hứa hôn từ lâu trước khi đi đến hôn nhân thực sự ở Ấn Độ. Nhưng khi gia đình này biết lý do Ahimsaka bị đuổi ra khỏi trường, họ cũng xua đuổi chàng.

Nỗi ô nhục, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của Ahimsaka đã làm cho chàng điên tiết. Trong nỗi đau đớn cùng cực đó, đầu óc của chàng chỉ nhớ lại mệnh lệnh khắc nghiệt của người thầy, góp nhặt một ngàn ngón tay người. Và vì thế mà chàng bắt đầu lao vào cuộc chém giết như vậy, những ngón tay góp nhặt được chàng treo chúng lên cành cây. Nhưng chúng bị bầy quạ và diều hâu phá hoại, sau đó chàng đã mang vào người vòng ngón tay để giữ gìn và theo dõi số lượng.

Cũng vì điều này mà Ahimsaka dần dần được biết qua cái tên Angulimala -người đeo vòng ngón tay và đã trở thành nổi hãi hùng cho vùng nông thôn thành Xá Vệ này. Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của Angulimala và ra lệnh bắt tên sát nhân.

Khi bà Mantani, mẹ của Ahimsaka, biết được lệnh truy nã của vua, bà vào rừng để tìm con, với những nỗ lực tuyệt vọng để cứu đứa con của mình. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala chỉ còn một ngón nữa là đủ túc số một ngàn. Đức Phật biết được tình thương và nỗ lực ngăn cản của người mẹ đối với con và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp thì chắc chắn Angulimala, đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số một ngàn, sẽ gặp chính mẹ của mình và y có thể giết bà.

Trong trường hợp đó, y sẽ chịu đau khổ còn lâu dài hơn nữa vì nghiệp ác của mình. Do lòng bi mẫn, Đức Phật đã quyết định đi đến khu rừng kia. Sau nhiều ngày đêm mất ngủ, Angulimala rất mệt và gần như kiệt sức, y rất nôn nóng tìm cách giết người cuối cùng để đủ số lượng một ngàn và hoàn tất phận sự của mình, y quyết định giết người đầu tiên mà mình gặp. Khi nhìn xuống từ nơi ẩn mình trên núi, y thấy một người đàn bà trên con đường phía dưới. Y muốn làm trọn lời thề của mình để có đủ một ngàn ngón tay, nhưng khi đến gần, y nhìn thấy người đó chíng là mẹ mình.

Cùng lúc ấy, Đức Phật cũng đang đi tới, và Angulimala liền định thần quyết giết chết người tu sĩ kia để thay thế cho mẹ mình. Y liền vung gươm bắt đầu đi theo Đức thế Tôn. Nhưng Đức Phật vẫn di chuyển trước mặt y. Angulimala không thể đuổi kịp được Ngài. Cuối cùng, y quát lên:

-Này, tên khất sĩ kia, hãy đứng lại ! Đứng lại !”, Đấng Giác Ngộ trả lời:

-Ta đã đứng lại từ lâu rồi, chỉ có ngươi mới là người chưa dừng lại thôi !” Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này.

Vì thế y lại hỏi:

-Tên khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại, còn tôi vẫn chưa dừng, nghĩa là sao?” 

Đức Phật đáp:

-Ta nói rằng ta đã dừng lại vì ta từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã an trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và trí tuệ do tư duy quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc giết hại và đối xử tàn bạo với người khác cũng như chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi loài hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại.

Nghe qua những lời này, Angulimala như được nhắc nhở thực tại và suy nghĩ, đây là những lời của một bậc hiền nhân. Vị khất sĩ này hiền thiện và rất mực dũng cảm như thế chắc hẳn vị này là một nhà lãnh đạo các khất sĩ .

Quả thực, chính Ngài hẳn là đấng Giác Ngộ rồi đây. Hẳn ngài đến đây chỉ vì mục đích làm cho mình thấy được ánh sáng. Suy nghĩ như vậy, y ném vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận y vào giáo đoàn khất sĩ, Đức Phật đã chấp thuận việc ấy.

Angulimala đảnh lễ dưới chân Đức Thế TônKhi đức vua và quân lính đến bắt Angulimala, họ thấy người ấy đang ở trong Tịnh xá Kỳ Hoàn của Đức Phật. Biết rằng Angulimala đã từ bỏ ác đạo của mình và trở thành một vị tỳ kheo, vua và quần thần đều đồng ý để yên vị này. Suốt thời gian ấy, Angulimala nhiệt tâm thực hành thiền định.

Vị khất sĩ Angulimala vẫn không được định tâm vì ngay cả trong lúc thiền định tĩnh lặng, Angulimala thường nhớ lại quá khứ cùng với những tiếng gào thét thê thảm của những nạn nhân bất hạnh.

Cũng vì ác nghiệp kia, mà một ngày nọ trong lúc đi khất thực trên đường phố, Tôn giả đã trở thành mục tiêu trả thù của đủ thứ gậy gộc, đá ném vào và thường trở về Tịnh xá vỡ đầu chảy máu, đầy vết thương bầm tím, rồi lại được Đức Phật nhắc nhở:

-“Này pháp tử Angulimala, con đã từ bỏ việc ác, hãy kham nhẫn lên. Đây là hậu quả của ác nghiệp mà con đã gây tạo. Đáng lẽ ác nghiệp sẽ còn làm cho con khổ đau qua vô lượng kiếp, nếu như con không có duyên gặp được ta.

Anguliama nhiệt tâm tinh cần tu tập thiền định, không lâu sau đó, ngài đã đắc quả A-la-hán. Rồi một buổi sáng nọ, trong lúc đang trên đường đi khất thực ở thành Savatthi, Tôn giả Angulimala nghe tiếng ai đang kêu khóc đau đớn. Khi Tôn giả biết đó là một thai phụ đang đau vì chuyển dạ và gặp khó khăn lúc sanh con. Tôn giả suy nghĩ tất cả chúng sanh trên thế gian này đều phải chịu đau khổ. Động lòng từ, Tôn giả về kể lại với Đức Phật nỗi khổ đau của người phụ nữ đáng thương kia.

Đức Phật dạy Tôn giả hãy nói lên những lời chân thật để giúp cho người thiếu phụ, lời khai thị đó về sau này có tên là Anggulimala Paritta, thần chú hộ mệnh. Sau đó, ngài Angulimala liền đi đến trước mặt người sản phụ đang chịu đau đớn kia, Tôn giả ngồi xuống cách bà ấy một tấm màn che và phát nguyện những lời sau:

-Này thưa chị, từ ngày tôi đắc quả A la hán đến nay, Tôi chưa từng cố ý sát hại mạng sống của sinh linh nào.

Nhờ sự thật này, cầu nguyện cho chị được an lành và đứa bé sắp sanh của chị cũng được an lành”.

Ngay lập tức người sản phụ liền sanh con một cách dễ dàng. Cả mẹ lẫn con đều được khỏe mạnh bình an. Cho đến nay nhiều người vẫn dùng đến thần chú hộ mệnh này.

Tôn giả Angulimala thích sống độc cư và biệt lập. Sau đó Tôn giả viên tịch một cách yên bình. Là một vị A la hán, Tôn giả chứng đắc Niết bàn. Các Tỳ kheo thỉnh cầu Đức Phật cho biết về nơi tôn giả Angulimala tái sanh, và khi Đức Thế Tôn đáp rằng Tôn gia Angulimala đã chứng đắc Vô dư Niết bàn, thì đại chúng không thể tin điều đó.

Vì thế chư vị lại hỏi rằng, liệu một người đã giết hại quá nhiều người như vậy, có thể chứng đắc Niết bàn Vô dư y chăng. Trước câu hỏi này, Đức Phật đáp: “Này các Tỳ kheo, Angulimala đã tạo quá nhiều ác nghiệp, vì vị ấy không có thiện hữu tri thức giúp đỡ cũng như có những lời khuyên tốt, nhưng một khi Angulimala đã hội ngộ được với Chánh Pháp, vị ấy đã trở nên kiên định và chuyên tâm thực hành giáo pháp và thiền định.

Như vậy, nghiệp ác của vị ấy đã được thiện nghiệp lấn át che phủ, giải trừ và tâm của vị ấy đã hoàn toàn đoạn trừ cả lậu hoặc. Đức Phật lại nói bài kệ về tôn giả Angulimala:

“Ai dùng các hạnh lành
Xoá mờ bao nghiệp ác
Chiếu sáng cõi đời này
Như trăng thoát khỏi mây”
Vì thế, sức mạnh của lòng từ bi bao giờ cũng mạnh hơn bất cứ ác nghiệp nào. Và đó cũng là điều kiện tuyệt đối để đạt đến giác ngộ.

Niềm tin nơi Đức Chúa hoặc Đức Phật, vẫn là quà-tặng đặc-biệt, gửi đến hết mọi người. Không chỉ mỗi người đi Đạo của Chúa hay của Phật. Quà được tặng, vẫn đòi người nhận quà một trách-nhiệm không nhỏ. Trách-nhiệm ấy, là biến lời khuyên thành hiện-thực, trong vui sống. Sống phù-hợp với tinh-thần được diễn-tả nơi lời khuyên, câu răn dạy.

Trách-nhiệm của người nhận quà, còn là và phải là một cam-kết sống xứng-hợp với lời khuyên ấy. Trách-nhiệm thực-hiện lời khuyên bằng cuộc sống còn được thấy nơi sự tương-giao có quan-hệ nồng-thắm mà người đời thường hay dùng ngôn-từ của chính mình, để gọi là: nguyện-cầu.

Nguyện và cầu, hay cầu và nguyện không phải và không bao giờ là sự xin xỏ. Bởi, đã là quà tặng cho không/biếu không, thì đâu cần chuyện xin cho được, hoặc cầu cho bằng được. Bởi, quà tặng từ Trên được ban-phát trước cả khi cho người có nhu-cầu cần đến, không cần người ấy/kẻ ấy phải nói lên tiếng “cầu” hoặc “xin”. Cũng chẳng cần gì phải khẩn-khoản, van nài chi cho rách việc.

Nguyện và cầu, như người ngoài Đạo, dù Đạo Chúa hay Đạo của Trời/của Phật, vẫn là tâm-tình hát lên lời biết ơn, cả vào lúc trước khi xin.

Nguyện và cầu, nhiều lúc và nhiều nơi vẫn mang dáng dấp của một lời khẩn-thiết mong mọi sự tốt đẹp cho người trong nước, hoặc người cận lân hoặc cận thân như câu hát ở trên được lặp đi lặp lại rất nhiều lần, như sau:

“Thượng Đế hỡi!
có thấu cho Việt Nam này,
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi!
hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.”
(Lê Minh Bằng – bđd)

Xem thế thì, hôm nay hoặc mai ngày, bạn và tôi, ta có nguyện-cầu hoặc cầu xin sao đó, cũng đừng xin xỏ cho chính mình. Nhưng, hãy cầu mong hoặc cầu chúc cho người khác, những người cận thân hay cận lân, đang ở trong nước hay ngoài nước, đang “ưu-phiền”, “triền miên” được vui tươi, sống thoải mái, để rồi họ và ta, sẽ hát câu ca nghẹn ngào một tình-thương, rằng:

“Hãy lắng tiếng nói”
vang trong tâm hồn mình người ơi.
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối.
Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài,
Và hồn tôi mang vết thương vết thương trần ai.”
(Lê Minh Bằng – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai
Quyết từ nay
Có nguyện cầu nhiều
Cũng đừng bao giờ xin xỏ
Mà chỉ cầu mong, cầu chúc
Cho mọi người mọi nơi
Được thanh-bình, ấm êm.