ĐTC Phanxicô nói về truyền giáo: ‘Không có Chúa Giêsu, chúng ta không thể làm được gì’

© Vatican Media

Những trích đoạn trong Phỏng vấn của ông Gianni Valente thuộc Fides với Đức Thánh Cha Phanxico.

04 tháng Mười Một, 2019 18:07

ZENIT STAFF

Cuối Tháng Truyền giáo Ngoại thường, Hãng Thông tấn Fides cung cấp một vài đoạn trích trong cuộc phỏng vấn được in thành sách của Gianni Valente thuộc Fides với Đức Thánh Cha Phanxico, trong đó Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “Giáo hội hoặc rao giảng phúc âm hoặc Giáo hội không phải là Giáo hội.” Quyển sách được xuất bản bởi nhà sách Libreria Edictrice Vaticana và Edizioni San Paolo sẽ được đưa lên kệ các nhà sách từ ngày 5 tháng Mười Một.

“Niềm vui của Tin mừng phủ lấp tâm hồn và đời sống của tất cả những người gặp gỡ Chúa Giê-su.” Đó là lời bắt đầu của Tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui của Tin mừng), do Đức Thánh Cha Phanxico phát hành tháng Mười Một năm 2013, tám tháng sau khi Mật nghị Hồng y bầu chọn vị Giám mục của Roma và là đấng Kế vị Phê-rô. Câu nói đó vạch ra chương trình cho triều đại của ngài mời gọi mọi người tái hòa hợp mọi hành động, suy tư và sáng kiến của hội thánh với “việc loan báo Tin mừng cho thế giới hôm nay.” Sáu năm sau, Đức Thánh Cha kêu gọi Tháng Truyền giáo Ngoại thường vào tháng Mười năm 2019, đồng thời triệu tập Đại Hội đồng Đặc biệt thuộc Thượng hội đồng Giám mục ở Roma thảo luận riêng về Vùng Amazon, với ý định đề ra những con đường mới cho việc rao giảng Tin mừng trong “lá phổi xanh,” chịu tử đạo bởi sự bóc lột tàn phá và gây ra những vết thương “trên những người anh chị em, và trên chị trái đất của chúng ta” (Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Thánh Lễ Bế mạc Thượng Hội đồng về Vùng Pan-Amazon).

Trong suốt thời gian này, Đức Thánh Cha Phanxico lồng ghép trong những bài phát biểu của ngài những đề cập liên tục về bản chất đặc thù sứ mạng của Giáo hội trên thế giới. Chẳng hạn, Đức Thánh Cha đã lặp đi lặp lại nhiều lần rằng việc rao giảng phúc âm không phải là “chiêu mộ tín đồ”, và Giáo hội phát triển “bởi sức thu hút” và “chứng nhân”.

Đức Thánh Cha Phanxico nói về tất cả những điều này, và còn nhiều hơn nữa, trong cuộc phỏng vấn được in thành sách với tiêu đề “Không có Ngài, chúng ta không thể làm được gì”: một cuộc đối thoại về người truyền giáo trong thế giới ngày nay. Dưới đây là những trích đoạn.

Thưa Đức Thánh Cha, người nói rằng khi còn trẻ người muốn đến Nhật để làm một nhà truyền giáo. Vậy chúng con có thể nói rằng Giáo hoàng không bao giờ trở thành một nhà truyền giáo không?

Tôi không biết. Tôi gia nhập Dòng Tên vì tôi rất ấn tượng với ơn gọi truyền giáo của họ, của việc luôn dấn bước ra những biên giới. Lúc đó tôi không thể đi Nhật. Nhưng tôi luôn cảm thấy rằng loan báo về Chúa Giê-su và Tin mừng của Ngài luôn bao gồm trong việc bước ra ngoài và liên tục di chuyển.

Đức Thánh Cha luôn lặp đi lặp lại: “Một Giáo hội luôn lên đường”. Nhiều người đã chọn câu nói này, và đôi khi nó dường như trở nên câu khẩu hiệu nhàm chán, ngày càng có nhiều người chỉ dành thời gian thuyết giảng cho Giáo hội về những gì Giáo hội nên là và không nên là.

“Một Giáo hội luôn lên đường” không phải là một cách nói theo thời trang mà tôi muốn sáng tạo ra. Nó là mệnh lệnh của Chúa Giê-su, trong Tin mừng Mác-cô Người yêu cầu các môn đệ phải đi vào thế giới và rao giảng Tin mừng “cho mọi loài thụ tạo.” Giáo hội hoặc là luôn lên đường hoặc giáo hội không phải là Giáo hội. Giáo hội hoặc rao giảng phúc âm hoặc Giáo hội không còn là Giáo hội. Nếu Giáo hội không lên đường, Giáo hội sa sút, Giáo hội trở thành một cái gì đó khác.

Vậy Giáo hội nếu không rao giảng phúc âm và không lên đường thì trở thành Giáo hội như thế nào?

Nó sẽ trở thành một hội đoàn thiêng liêng, một hội đoàn đa quốc gia đưa ra những sáng kiến và thông điệp về luân lý và tôn giáo. Như vậy thì cũng chẳng có gì sai, nhưng như vậy không phải là Giáo hội. Đây là sự rủi ro cho bất kỳ tổ chức tĩnh nào trong Giáo hội. Cuối cùng chúng ta lại chế ngự Đức Ki-tô. Bạn không còn làm chứng nhân cho những gì Đức Ki-tô làm, nhưng chỉ nói lên một ý tưởng nào đó của Đức Ki-tô. Một ý tưởng mà bạn đã lấy làm của riêng và hướng nó theo mình. Bạn tổ chức mọi việc, bạn trở thành một người giám đốc nhỏ của đời sống hội thánh, nơi mọi việc diễn ra theo một chương trình đã được thiết lập sẵn, được tuân theo đúng những gì hướng dẫn. Nhưng gặp gỡ với Đức Ki-tô thì không bao giờ xảy ra. Sự gặp gỡ chạm đến tâm hồn bạn lúc ban đầu không bao giờ xảy ra.

Có phải việc truyền giáo là thuốc giải cho tất cả mọi điều này? Có phải ý chí và nỗ lực “bước ra ngoài” để truyền giáo đủ để tránh được những sự méo mó này không?

Truyền giáo, “Giáo hội luôn lên đường,” không phải là một chương trình, một ý định được thực hiện chỉ bằng sức mạnh của ý chí. Chính Đức Ki-tô là Đấng làm cho Giáo hội bước ra ngoài. Trong sứ mạng rao giảng phúc âm, bạn phải lên đường vì Chúa Thánh Thần thúc đẩy bạn, và đưa bạn đi. Và khi bạn đến đó, thì bạn nhận ra rằng Người đã ở đó, và đang chờ đợi bạn. Thần Khí của Chúa đến trước. Ngài đã chuẩn bị con đường cho bạn và đã hoạt động.

Trong một buổi họp với Hội Truyền giáo Giáo hoàng, người đề nghị rằng họ phải đọc Sách Tông đồ Công vụ, giống như văn bản kinh đọc quen thuộc hàng ngày. Tại sao lại là một là văn bản kể về những thời gian ban đầu, thay vì một bản hướng dẫn truyền giáo theo chiến thuật “hiện đại”?

Vai chính trong Tông đồ Công vụ không phải là các tông đồ. Vai chính là Chúa Thánh Thần. Các tông đồ là những người đầu tiên nhận biết Ngài và làm chứng về Ngài. Khi họ chuyển tải lại những quyết định được đưa ra bởi Công đồng Giê-ru-sa-lem cho cộng đoàn ở An-ti-ô-khi-a, họ viết: “Chúng tôi đã quyết định, Chúa Thánh Thần và chúng tôi.” Họ chân nhận thực tế rằng chính Thiên Chúa là Đấng mỗi ngày đều thêm vào cho họ con số “những người được cứu rỗi,” không phải là những nỗ lực chinh phục của con người.

Và ngày nay có tương tự như thuở xưa không? Có gì thay đổi không?

Kinh nghiệm của các tông đồ như một mô hình luôn luôn có giá trị. Chỉ cần suy nghĩ đến cách thức các sự việc xảy ra một cách tự nhiên trong Tông đồ Công vụ, không hề có sự ép buộc. Đó là một câu truyện của con người, trong đó các môn đệ luôn luôn đến sau, họ luôn đến sau khi Chúa Thánh Thần đã hoạt động. Ngài chuẩn bị và hoạt động trong các tâm hồn. Ngài làm đảo lộn kế hoạch của họ. Chính Ngài là người đồng hành với họ, hướng dẫn họ và an ủi họ trong những hoàn cảnh sống của họ. Khi các vấn đề và những sự bắt bớ xảy đến, Chúa Thánh Thần cũng hoạt động ở đó theo một con đường thậm chí đầy ngạc nhiên hơn bằng sự an ủi của Ngài, sự vỗ về của Ngài, như việc xảy ra sau phúc tử đạo đầu tiên, là sự tử đạo của Thánh Stê-pha-nô.

Chuyện gì xảy ra sau đó?

Một thời kỳ bách hại bắt đầu, và nhiều môn đệ chạy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem, về Giu-đê-a và Samari. Và ở đó trong khi họ bị tan tác và chạy trốn, họ lại bắt đầu rao giảng phúc âm, cho dù họ chỉ có một mình và không có các Tông đồ vì các ông vẫn còn ở Giê-ru-sa-lem. Họ làm phép rửa tội và Chúa Thánh Thần ban cho họ lòng can đảm tông đồ. Ở đó chúng ta lần đầu tiên chứng kiến thấy rằng phép rửa tội là đủ để trở thành các nhà rao giảng phúc âm. Rao giảng là như vậy. Rao giảng là công việc của Ngài, chẳng có gì phải căng thẳng. Chúng ta chẳng cần phải có tổ chức (lớn), chẳng cần phải hét lên, chẳng cần phải quảng cáo ồn ào và những kỹ thuật. Tất cả những gì chúng ta cần làm là xin ơn có khả năng lặp lại kinh nghiệm hôm nay khiến chúng ta nói lên, “Chúng tôi đã quyết định, Chúa Thánh Thần và chúng tôi.”

Và nếu không có kinh nghiệm này, thì những tiếng kêu gọi vận động truyền giáo có ý nghĩa gì?

Không có Thần Khí, ý muốn truyền giáo trở thành một điều gì đó khác. Nó trở thành, tôi có thể nói là một kế hoạch chinh phục, cái cớ để chúng ta chinh phục cái gì đó. Một sự chinh phục tôn giáo, hay có thể là một hệ tư tưởng, thậm chí có thể được thực hiện với ý định tốt. Nhưng đó lại là chuyện khác.

Trích dẫn lời của Đức Giáo hoàng Benedict XVI, cha thường nhắc lại rằng Giáo hội phát triển bởi sự cuốn hút. Ý của cha là như thế nào? Ai cuốn hút? Ai bị cuốn hút?

Chúa Giê-su nói điều này trong Tin mừng Gio-an, “Khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” Và trong cùng Tin mừng đó, Người cũng nói: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy”. Giáo hội luôn nhận rằng đây là hình thức phù hợp cho mọi hoạt động đem chúng ta lại gần với Chúa Giê-su và Tin mừng hơn. Nó không phải là sự duy lý, nó không phải là việc chiếm một vị trí; không phải là một áp lực, hay một sự đè nén. Nó luôn luôn là một sự cuốn hút. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã nói, “Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.” Và điều này là đúng với các tông đồ, với các nhà truyền giáo, và công cuộc của họ.

Những điều người vừa mô tả diễn ra như thế nào?

Chỉ thị của Chúa là hãy ra ngoài và rao giảng phúc âm đến từ bên trong, bằng tình yêu, bằng sự cuốn hút yêu thương. Một người không đi theo Đức Ki-tô, và thậm chí khó trở thành một nhà rao giảng phúc âm, vì quyết định chỉ ngồi tại bàn, hay theo chủ nghĩa tích cực của riêng mình. Ngay cả sức mạnh truyền giáo chỉ có thể hiệu quả nếu nó diễn ra trong sự cuốn hút này, và truyền nó sang cho người khác.

Ý nghĩa của những lời này là như thế nào, những lời liên quan đến việc truyền giáo và công bố Tin mừng?

Nó có nghĩa là nếu anh được cuốn hút bởi Đức Ki-tô, nếu anh bước ra ngoài và làm mọi việc vì anh bị cuốn hút bởi Đức Ki-tô, thì người khác sẽ chú ý đến nó không cần phải gượng ép. Không cần phải chứng minh nó, chẳng cần phải phô trương nó. Thay vào đó, nếu một người nghĩ rằng mình là vai chính hoặc là người quản lý của việc truyền giáo, với mọi ý định tốt đẹp nhất và những tuyên bố về mục đích, thường kết thúc là chẳng cuốn hút được người nào.

Trong Tông huấn Evangelii Gaudium, người công nhận rằng tất cả điều này có thể làm cho chúng ta hoa mắt. Nó có giống như những người nhảy lao đầu xuống đại dương và chẳng biết mong chờ điều gì xảy đến. Người muốn đưa ra điều gì với hình ảnh này? Có phải tất cả những lời này đều liên quan đến truyền giáo?

Truyền giáo không phải là một kế hoạch thử nghiệm và kiểm tra của công ty. Nó cũng chẳng phải sự kiện quảng bá được tổ chức để phô trương số người liên hợp với nó nhờ tài quảng cáo của chúng ta. Chúa Thánh Thần hoạt động theo ý của Người vào thời điểm Người muốn và tại nơi Người muốn. Và điều này có thể gây ra một tình trạng hoa mắt nào đó.

Nhưng đỉnh cao của sự tự do chính là ở chỗ để cho bản thân được dẫn đưa bởi Thần Khí, từ bỏ yếu tố cần phải tính toán và điều khiển mọi thứ. Đây chính là cách chúng ta bắt chước Đức Ki-tô, là Đấng trong mầu nhiệm Phục sinh của Người đã đặt việc nghỉ ngơi trong sự dịu dàng của cái ôm của Chúa Cha.

Hoa trái huyền nhiệm của việc truyền giáo không nằm trong những ý định của chúng ta, trong những phương pháp, những sức đẩy của chúng ta, và trong những sáng kiến của chúng ta, nhưng chính là nằm trong sự hoa mắt này: sự hoa mắt mà chúng ta nhận thức khi chúng ta nghe thấy lời của Chúa Giê-su: “không có thầy anh em chẳng làm được gì.”

Người cũng thường lặp lại rằng Giáo hội phát triển “bởi chứng nhân.” Người cố gắng đề nghị điều gì qua điều này?

Sự thật là sự cuốn hút làm chúng ta trở thành các chứng nhân. Chứng tá này cho biết những gì mà công cuộc của Đức Ki-tô và Thần Khí của Người đã thật sự hoàn tất trong đời sống chúng ta. Sau Phục sinh, chính Đức Ki-tô mạc khải Người cho các tông đồ. Chính Người làm cho các ông trở thành chứng nhân. Ngoài ra, chứng tá này không phải là sự tự phục vụ. Chúng ta là những chứng nhân cho công cuộc của Chúa.

Có một điều khác người cũng thường lặp lại, trong trường hợp này với cảm giác không tốt: Giáo hội không phát triển qua sự chiêu dụ tín đồ, và việc truyền giáo của Giáo hội không phải là chủ nghĩa chiêu mộ tín đồ. Tại sao người lại liên tục nhắc lại điều này? Có phải là để duy trì những mối quan hệ tốt với các Giáo hội khác và đối thoại với các truyền thống tôn giáo khác?

Vấn đề chiêu mộ tín đồ không chỉ mâu thuẫn với hành trình đại kết và đối thoại liên tôn. Sẽ có sự chiêu dụ tín đồ ở bất cứ nơi nào nổi lên ý tưởng muốn làm cho Giáo hội phát triển bằng cách tập trung mọi việc vào những hình thức “diễn thuyết thông thái”, ít đặt sự chú trọng vào sức cuốn hút của Đức Ki-tô và công việc của Thần Khí. Vì vậy, chủ nghĩa chiêu mộ trước hết gạt bỏ chính Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần ra khỏi việc truyền giáo, ngay cả khi chúng ta khẳng định nói và hành động trên danh nghĩa là nhân danh Đức Ki-tô. Sự chiêu mộ tín đồ về bản chất luôn luôn mang tính bạo lực, ngay cả khi nó bị ẩn giấu hay được thực hiện với những đôi găng tay trắng. Nó không khoan nhượng với tính tự do và bao dung qua đó đức tin có thể được truyền tải từ người này sang người khác nhờ ơn sủng. Đây là lý do tại sao sự chiêu mộ tín đồ không là một vấn đề riêng của quá khứ, của những thời kỳ thực dân đã qua, hay những sự cải đạo bị ép buộc hay được mua bằng sự hứa hẹn những thuận lợi về vật chất. Sự chiêu mộ tín đồ cũng còn tồn tại ngày nay thậm chí trong các giáo xứ, các cộng đoàn, các phong trào, các dòng tu.

Như vậy ý nghĩa rao giảng phúc âm là gì?

Rao giảng phúc âm có nghĩa là thể hiện chứng tá của Đức Ki-tô bằng những lời đơn giản và chuẩn xác như các tông đồ đã làm. Nhưng không cần phải sáng tạo ra những bài diễn thuyết đầy thuyết phục. Việc rao giảng phúc âm thậm chí có thể là lời thì thầm, nhưng nó luôn luôn truyền tải qua sức mạnh bao trùm của thập giá. Và nó luôn luôn đi theo con đường được chỉ ra trong thư của Thánh Tông đồ Phê-rô, nó chứa đựng trong cách “đưa ra những lý do” của niềm hy vọng của mình cho người khác, một niềm hy vọng vẫn còn là một cớ vấp phạm và khờ dại trong con mắt thế gian.

Làm sao để chúng ta nhận biết một “người Ki-tô hữu truyền giáo”?

Một nét riêng đó là hoạt động như người trợ giúp, không phải như người điều khiển đức tin. Hỗ trợ, làm cho dễ dàng hơn, mà không đặt những chướng ngại trước khát khao của Chúa Giê-su ôm lấy mọi người, chữa lành mọi người, cứu thoát mọi người, không chọn lựa, không áp đặt những “giá biểu mục vụ,” không đóng vai trò là người giữ cửa kiểm soát ai là người có quyền đi vào. Tôi nhớ đến các linh mục xứ và những cộng đoàn ở Buenos Aires đã xây dựng nhiều sáng kiến để trợ giúp việc đến với phép rửa tội. Trong ít năm gần đây, họ nhận thấy con số ngày càng nhiều những người không được rửa tội vì nhiều lý do, thậm chí cả những lý do liên quan đến xã hội, và họ muốn nhắc nhở mọi người rằng rửa tội là một điều gì đó đơn giản, rằng mọi người đều có thể yêu cầu điều đó cho bản thân họ và cho con cái của họ. Con đường được thực hiện bởi các linh mục xứ và những cộng đoàn đó có một mục tiêu: không đặt thêm những gánh nặng, không đặt ra những đòi hỏi, để tháo cởi những khó khăn về văn hóa, tâm lý hoặc thực tiễn có thể đẩy người ta đến chỗ trì hoãn hoặc từ bỏ ý định rửa tội cho con cái của họ.

Thời kỳ đầu rao giảng phúc âm ở Mỹ, các nhà truyền giáo tranh luận ai “xứng đáng” được lãnh nhận bí tích rửa tội. Những tranh cãi đó đã kết thúc như thế nào?

Đức Giáo hoàng Phaolo II đã bác bỏ các thuyết của những người cho rằng người Da Đỏ về bản chất là “không đủ khả năng” để đón nhận Tin mừng và khẳng định chọn lựa của những người hỗ trợ việc rửa tội cho họ. Chúng có vẻ là những vấn đề của quá khứ, tuy nhiên ngay cả bây giờ vẫn có những nhóm người và khu vực thể hiện bản thân họ như tầng lớp ưu tú [được khai sáng], và thậm chí tách riêng việc rao giảng Tin mừng qua luận điểm bị bóp méo của họ phân chia thế giới thành tầng lớp “văn minh” và “man di.” Điều làm họ khó chịu và tức giận là tư tưởng nói rằng Thiên Chúa có thể có phần ưu ái cho người thuộc tầng lớp cabecitas negras [một cụm từ miệt thị chỉ tầng lớp lao động]. Họ xem một phần lớn trong gia đình nhân loại thuộc thực thể tầng lớp thấp kém, không thể đạt được những mức độ tốt trong đời sống tinh thần và trí tuệ theo những tiêu chuẩn của họ. Trên căn bản này, sự khinh miệt dành cho những người bị xem là loại thấp kém ngày càng lớn lên. Tất cả những điều này cũng hiện lên trong Thượng Hội đồng Giám mục về Amazon.

Một số người có khuynh hướng đóng một cái nêm để tách rời giữa việc công bố đức tin và công việc xã hội. Họ nói rằng chúng ta không được biến việc truyền giáo thành một loại hình hoạt động xã hội. Đó có phải là một mối quan tâm chính đáng?

Mọi việc nằm trong phạm vi của Bát Phúc và các mối phúc thương xót đều phù hợp với việc truyền giáo, đã là việc rao giảng phúc âm, đã là việc truyền giáo. Giáo hội không phải là một tổ chức phi chính phủ, Giáo hội là một điều gì đó khác. Nhưng Giáo hội cũng là một bệnh viện di động, nơi mọi người đều được chào đón, với chính con người của họ, nơi những vết thương của mọi người được chữa lành. Và đây là phần việc truyền giáo của Giáo hội. Mọi việc đều tùy thuộc vào tình yêu làm lay động tâm hồn của những người thực hiện công việc. Nếu một nhà truyền giáo đào một cái giếng nước ở Mozambique đó là vì người đó thấy rằng những người mà người đó rửa tội và rao giảng phúc âm đang cần nó, làm sao có thể nói rằng công việc như vậy lại phải tách biệt khỏi việc rao giảng phúc âm?

Ngày nay có những sự chú ý và nhạy cảm mới để đem thực hành những tiến trình nhắm đến việc rao giảng phúc âm hiệu quả trong các bối cảnh xã hội và văn hóa khác nhau?

Ki-tô giáo không ôm lấy duy nhất một mô hình văn hóa. Như Đức Gioan Phaolo II xác nhận, “trong khi vẫn hoàn toàn duy trì đúng theo bản chất, với lòng trung thành vững chắc đối với việc rao giảng Tin mừng và truyền thống của Giáo hội, Ki-tô giáo cũng sẽ phản ánh những khuôn mặt khác nhau của văn hóa và dân tộc đón nhận và bén rễ trong nó.” Chúa Thánh Thần làm đẹp Giáo hội, với những ngôn ngữ mới của những con người và cộng đoàn ôm lấy Tin mừng. Từ đó Giáo hội trở thành “sponsa ornate monilibus suis” qua cách đón lấy những giá trị của các nền văn hóa khác nhau, tân nương được trang điểm bằng những trang sức,” điều mà Ngôn sứ I-sai-a đã nói. Đúng là một số nền văn hóa đã được liên kết gần gũi với việc rao giảng Tin mừng và sự phát triển của tư tưởng Ki-tô giáo. Nhưng trong thời đại chúng ta đang sống, nó còn cấp bách hơn nữa để ghi nhớ rằng thông điệp được mạc khải không được đồng hóa với một nền văn hóa nào đó. Và khi tiếp xúc với những văn hóa mới, hoặc những nền văn hóa không chấp nhận việc rao giảng Ki-tô giáo, chúng ta không được cố áp đặt một hình thức văn hóa dứt khoát với tuyên bố rao giảng. Ngày nay, trong công cuộc truyền giáo cũng vậy, điều thậm chí còn quan trọng hơn là không mang những hành lý nặng nề.

Truyền giáo và tử đạo. Người thường nhắc lại mối dây liên kết mật thiết hai thực tại này.

Trong đời sống người Ki-tô hữu, thực tại tử đạo và rao giảng phúc âm đều có cùng một nguồn gốc, cùng nguồn cội: khi tình yêu của Thiên Chúa rót đổ vào trong tâm hồn chúng ta bởi Chúa Thánh Thần ban cho sức mạnh, lòng can đảm, và sự an ủi. Tử đạo là cách biểu đạt tối thượng của sự chân nhận và của việc làm chứng cho Đức Ki-tô, nó thể hiện sự kiện toàn của sứ vụ, của công việc tông đồ. Tôi luôn nghĩ đến những người anh em Cốp-tíc bị tàn sát ở Libya, những người âm thầm kêu danh Chúa Giê-su trong khi họ bị chặt đầu. Tôi nghĩ đến các Nữ tu của Mẹ Thánh Teresa bị sát hại ở Yemen, trong khi các chị đang chăm sóc cho những bệnh nhân Hồi giáo trong một căn nhà cho người già khuyết tật. Các nữ tu đang đeo những tạp dề của công việc phủ ngoài tu phục của các chị khi họ bị giết. Tất cả họ đều là những người chiến thắng vinh quang, không phải là “những nạn nhân.” Và sự tử đạo của họ, tới mức đổ máu mình ra, minh họa cho sự tử đạo mà mọi người có thể phải chịu trong cuộc sống hàng ngày, với chứng tá cho Đức Ki-tô mỗi ngày. Đó là những điều có thể thấy được khi đến thăm những nhà truyền giáo già trong các nhà hưu dưỡng. Họ thường bị hành hạ bởi cuộc sống của họ lúc trước. Một nhà truyền giáo kể với tôi rằng nhiều người bị mất trí nhớ và không còn nhớ được bất kỳ điều gì tốt lành họ đã làm. “Nhưng điều đó chẳng là vấn đề gì,” ngài nói với tôi, “vì Chúa nhớ rất rõ.”

[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 6/11/2019]