Bài học của người xưa để lại | Jer. Nội

BÀI HỌC CỦA NGƯỜI XƯA ĐỂ LẠI
CHÚA N
HẬT X THƯỜNG NIÊN NĂM C
[1 V 17,17-24; Gl 1, 11-19; Lc 7,11-17]

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Các bài Thánh Kinh của Phụng Vụ hôm nay cho chúng ta một bài học quý giá về Đức Tin mà Hội Thánh mời gọi chúng ta đào sâu, canh tân, sống và truyền bá một cách đặc biệt trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này. Ngôn sứ Ê-li-a tin Thiên Chúa cách tuyệt đối đến độ Thiên Chúa bảo sao ông làm y như vậy. Bà góa thành/làng Xa-rép-ta tin lời ngôn sứ Ê-li-a đến quên cả mạng sống mình và của người con mình, mà làm theo những gì ông ấy bảo (xem bài đọc 1). Thánh Phao-lô xác tín mãnh liệt vào sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại mà Chúa Giê-su Ki-tô đã giao phó cho ngài mà hăng say rao giảng (xem bài đọc 2). Bà góa thành Na-in và nhiều người dân thành/làng ấy đã tuyên xưng Đức Giê-su là Vị Ngôn Sứ Vĩ Đại và nhìn nhận việc Đức Giê-su làm cho người con trai duy nhất của bà góa thành Na-in là dấu hiệu và bằng chứng của việc Thiên Chúa viếng thăm dân Ít-ra-en là dân riêng Người. Còn bạn thì sao?           

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (1 V 17,17-24):
Báo trước tai ương

1 Ông Ê-li-a, người Tít-be, trong số dân cư ngụ tại Ga-la-át, nói với vua A-kháp rằng: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của Ít-ra-en, Đấng tôi phục vụ: trong những năm sắp tới, sẽ chẳng có mưa, có sương, nếu tôi không ra lệnh.”

2 Có lời Đức Chúa phán với ông như sau: 3 “Ngươi hãy bỏ đây đi về phía đông, và ẩn mình trong thung lũng Cơ-rít, phía đông sông Gio-đan. 4 Ngươi sẽ uống nước suối. Ta đã truyền cho quạ nuôi ngươi ở đấy.” 5 Ông ra đi và làm như Đức Chúa truyền: là đến ở thung lũng Cơ-rít, phía đông sông Gio-đan. 6 Buổi sáng, quạ mang bánh và thịt cho ông; rồi buổi chiều, cũng mang bánh và thịt cho ông. Ông uống nước suối.

7 Nhưng sau một thời gian, suối cạn khô, vì trong xứ không có mưa. 8 Bấy giờ có lời Đức Chúa phán bảo ông: 9 “Ngươi hãy đứng dậy đi Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn, và ở lại đấy. Này Ta truyền cho một bà goá ở đó nuôi ngươi.” 10 Ông liền đứng dậy đi Xa-rép-ta. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và nói: “Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống.” 11 Bà ấy liền đi lấy nước. Ông gọi bà và nói: “Bà làm ơn lấy cho tôi miếng bánh nữa!” 12 Bà trả lời: “Có Đức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết.” 13 Ông Ê-li-a nói với bà: “Bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói. Nhưng trước tiên, bà hãy lấy những thứ đó mà làm cho tôi một chiếc bánh nhỏ, và đem ra cho tôi, rồi sau đó bà sẽ làm cho bà và con bà. 14 Vì Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en phán thế này: “Hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất.”

2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong đọc 2 (Gl 1,11-19):
Ơn gọi của Thánh Phao-lô

11 Thật vậy, thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. 12 Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải. 13 Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái: tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. 14 Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.

15 Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. 16 Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, 17 cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát. 18 Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày. 19 Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Gia-cô-bê, người anh em của Chúa.

2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Lc 7,11-17):
Đức Giê-su cho con trai một bà goá thành Na-in sống lại

raising+the+dead

11 Sau đó, Đức Giê-su đi đến thành kia gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. 12 Khi Đức Giê-su đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. 13 Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa!”   14 Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giê-su nói: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!” 15  Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ. 16 Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”. 17 Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân dung Thiên Chúa trong 3 bài Thánh Kinh     

(1o) Bài đọc 1 (1 V 17,17-24) là đoạn sách kể lại cách sống phục tùng Thiên Chúa của Ê-li-a: Thiên Chúa bảo sao, Ê-li-a làm vậy; Thiên Chúa nói điều gì Ê-li-a làm điều ấy. Chúng ta cũng phải cảm phục lòng tin tuyệt vời của bà góa thành/làng Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn đối với những lời của vị ngôn sứ của Thiên Chúa là Ê-li-a. Bà đã quên rằng bà và con bà rất cần đến tấm bánh cuối cùng để sống thế mà bà vẫn hiến nó cho vị ngôn sứ. Chính vì thế mà đã có làm phép lạ “hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất” cho cả Ê-li-a và cho cả bà góa thành/làng Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn.

– Qua câu chuyện mà đoạn Sách 1 V 17,17-24 tường trình lại, chúng ta thấy rõ lòng tin và sự vâng phục tuyệt đối của Ê-li-a đối với Thiên Chúa và của bà góa đối với vị ngôn sứ của Thiên Chúa.

(2o) Bài đọc 2 (Gl 1,11-19) là những lời của Thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Ga-lát, trong đó ngài khẳng định (a) Tin Mừng mà ngài đang rao giảng là Tin Mừng mà chính Chúa Giê-su Ki-tô đã giao cho ngài rao giảng và (b) chính Thiên Chúa đã chọn ngài làm vị tông đồ dân ngoại.  

– Trong đoạn Thư Gl 1,11-19 chúng ta thấy sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại của Thánh Phao-lô là một hồng ân lớn lao mà ngài đã lãnh nhận từ chính Chúa Giê-su Ki-tô, nên Thánh Phao-lô hết sức trân trọng và xuất sắc chu toàn. 

(3o) Bài Tin Mừng (Lc 7,11-17) là bài tường thuật của Lu-ca về câu truyện Chúa Giê-su làm cho người con trai duy nhất của bà góa thành Na-in sống lại. Chúa Giê-su thực hiện phép lạ vì Người cảm động trước nỗi đau mất con của một người mẹ góa.   Nhờ phép lạ Người làm mà dân chúng tin là một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người.”

– Qua Bài Phúc Âm Lc 7,11-17 chúng ta thấy Chúa Giê-su động lòng thương người phụ nữ góa chồng mất người con duy nhất. Trong xã hội Do-thái thời đó, tư thế của một người phụ nữ tùy thuộc vào người cha hay người chồng hay người con trai của người ấy. Vì thế làm cho người con trai duy nhất của bà góa thành Na-in sống lại cũng có nghĩa là Chúa Giê-su đã trả lại tư thế trong cộng đoàn cho bà ấy, tư thế mà bà vửa mất khi người con trai duy nhất ra đi.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa      

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được tìm thấy trong lời tuyên xưng của dân chúng (mọi người) thành Na-in: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người.”

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa là Đấng đã làm cho hũ bột của bà góa thành/làng Xa-rép-ta không bao giờ vơi và vò dầu của bà ấy không bao giờ cạn. Vị Thiên Chúa cũng là Đấng đã giao cho Phao-lô sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại. Và chính vị Thiên Chúa ấy làm cho người con trai duy nhất của bà góa thành Na-in sống lại khi đang được người ta mang d0i chôn.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa 

Thực thi Sứ Điệp của Lời Chúa hôm nay là chúng ta tin vào Chúa Giê-su Ki-tô và đón nhận Người là Vị Ngôn Sứ Vĩ Đại, là dấu hiệu và bằng chứng của việc Thiên Chúa viếng thăm dân Người.

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: «Bà đừng khóc nữa!» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho nhân loại đang sống trong đau khổ vì đói nghèo, chiến tranh, đang bị mất mát của cài, phẩm giá và quyền làm người, để mọi người, mọi dân tộc cảm nghiệm được lòng thương của Thiên Chúa!

Xướng: Chúng con cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

5.2 «Tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải!» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và cho mọi tín hữu để ai nấy đều xác tin rằng Tin Mừng mà Hội Thánh rao giảng là Tin Mừng do chính Chúa Giê-ki-tô mặc khải cho.

Xướng: Chúng con cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

5.3 «Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Ki-tô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, để mọi người mạnh mẽ tin rằng Đức Giê-su Ki-tô là Vị Ngôn Sứ Vĩ Đại của Thiên Chúa và mở lòng đón nhận Người.

Xướng: Chúng con cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

5.4 «Và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho những người yếu hay không tin vào sự hiện diện yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa trong thế giới này, để họ khám phá ra rằng Thiên Chúa luôn ở bên cạnh họ và quan tâm chăm sóc họ ngày đêm.

Xướng: Chúng con cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội