Đức Thánh Cha chân nhận sự đau khổ của nhiều linh mục trong môi trường hiện tại

Đức Thánh Cha chân nhận sự đau khổ của nhiều linh mục trong môi trường hiện tại
Villeneuve_d’Ascq_vitrail,_du_curé_d’Ars_église_Saint-Sébastien_Wikimedia Commons

Thư gửi nhân ngày Lễ Thánh Gioan Vianney, the Curé of Ars

04 tháng Tám, 2019 15:19

JIM FAIR

Đức Thánh Cha Phanxico cảm ơn các linh mục vì những hy sinh của họ và chân nhận những sự đau khổ mà nhiều người cảm nhận trong lòng trong môi trường hiện tại qua một lá thư dài viết ngày 4 tháng Tám năm 2019, ngày Lễ Thánh Gioan Vianney, Cure of Ars.

Đức Thánh Cha nói, “Nhân ngày này, ngày lễ kính của thánh nhân, cha viết lá thư này không chỉ gửi đến các linh mục quản xứ nhưng là tới tất cả anh em, những người linh mục huynh đệ của cha, là những người đã âm thầm ‘bỏ lại tất cả phía sau’ để đắm mình vào đời sống hàng ngày trong các cộng đoàn của anh em. Cũng như Thánh Gioan Vianney, anh em phục vụ ‘trong những công sự’, mang lấy gánh nặng và sức nóng của ngày làm việc (cf. Mt 20:12), đối mặt với muôn vàn những tình huống khác nhau trong nỗ lực chăm sóc và đồng hành với dân Chúa.

“Cha muốn nói một lời với từng người trong anh em, không kèn trống và thật riêng tư, giữa những mỏng giòn, những yếu đuối, và sự phiền muộn, thi hành sứ mạng phục vụ Chúa và giáo dân của anh em. Bất kể những sự nhọc nhằn của hành trình, anh em đang viết lên những trang đẹp nhất của đời sống linh mục.”

Đức Thánh Cha tiếp tục nhấn mạnh rằng trong bối cảnh của sự khủng hoảng lạm dụng, nhiều linh mục đã chịu đau khổ. Ngài nói rằng trong nhiều chuyến thăm mục vụ của ngài trên khắp thế giới ngài đã nghe thấy sự tổn thương của các linh mục về những gương mù gương xấu và những tàn phá nó đã gây ra cho Giáo hội.

Ngài cũng thừa nhận các nạn nhân của nạn lạm dụng, cả tình dục và quyền lực. Ngài nhấn mạnh cam kết cải tổ của ngài.

Đức Phanxico nói, “Trong những năm vừa qua, chúng ta đã lưu ý hơn tới những tiếng khóc, thường là âm thầm và bị bóp nghẹt, của những người anh chị em chúng ta là những nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực, lạm dụng lương tâm và lạm dụng tình dục do những thừa tác viên thánh chức gây ra. Đây là một thời gian đau khổ rất lớn trong đời sống của những người đã trải qua những lạm dụng như vậy, nhưng cả với đời sống gia đình của họ và của toàn thể Dân Chúa.

“Chúng ta cam kết mạnh mẽ thực hiện những cải tổ cần thiết để khuyến khích mở ra một văn hóa chăm sóc mục vụ, để văn hóa lạm dụng sẽ không còn đất phát triển, và không còn tái diễn. Trách vụ này không thể nhanh chóng cũng không dễ dàng: nó đòi hỏi sự cam kết của tất cả mọi người. Nếu trong quá khứ, sự chểnh mảng có thể là câu trả lời, ngày nay chúng ta khao khát sự hối cải, minh bạch, sự chân thành, và tình đoàn kết với các nạn nhân để biến thành một con đường tiến bước cụ thể của chúng ta. Và điều này sẽ giúp làm cho tất cả chúng ta biết quan tâm hơn đến mọi hình thức đau khổ của con người.”

Đức Thánh Cha Phanxico nhắc nhở các linh mục hãy giữ lòng trung thành và lạc quan. Ngài cảnh báo chống lại việc rơi vào tâm trạng buồn bã và ngã lòng.

Đức Phanxico kết luận, “Ước mong rằng chúng ta hãy giữ cho thái độ của chúng ta đánh thức lời ngợi khen và lòng nhiệt huyết được đổi mới cho thừa tác vụ xức dầu cho anh chị em của chúng ta với niềm hy vọng. Ước mong rằng chúng ta trở thành những con người với đời sống làm chứng nhân cho lòng trắc ẩn và lòng thương xót mà Chúa Giê-su ban tặng cho chúng ta.”

Toàn văn thư của Đức Thánh Cha

Gửi các linh mục huynh đệ của cha

Anh em thân mến,

Một trăm sáu mươi năm trôi qua kể từ ngày Thánh Gioan Vianney qua đời, Đấng mà Đức Giáo hoàng Pi-ô XI đã chọn là bổn mạng cho các linh mục coi xứ trên toàn thế giới.[1] Nhân ngày này, ngày lễ kính của thánh nhân, cha viết lá thư này không chỉ gửi đến các linh mục coi xứ nhưng là tới tất cả anh em, những người linh mục huynh đệ của cha, là những người đã âm thầm “bỏ lại tất cả phía sau” để đắm mình vào đời sống hàng ngày trong các cộng đoàn của anh em. Như Thánh Gioan Vianney, anh em phục vụ ‘trong những công sự’, mang lấy gánh nặng của ngày làm việc và sức nóng (cf. Mt 20:12), đối mặt với muôn vàn những tình huống khác nhau trong nỗ lực chăm sóc và đồng hành với dân Chúa. Cha muốn gửi đến một lời với từng người trong anh em, không kèn trống và thật riêng tư, giữa những mỏng giòn, những yếu đuối, và sự phiền muộn, thi hành sứ mạng phục vụ Chúa và giáo dân của anh em. Bất kể những sự nhọc nhằn của hành trình, anh em đang viết lên những trang đẹp nhất của đời sống linh mục.

Một thời gian trước đây, cha có chia sẻ với các giám mục Ý sự lo lắng của cha rằng, ở một số nơi, các linh mục của chúng ta cảm thấy bị tấn công và bị lên án với những tội ác họ không làm. Cha nói rằng các linh mục cần phải tìm thấy nơi vị giám mục của họ là một người anh lớn và là một người cha an ủi cho họ trong những lúc khó khăn này, động viên và hỗ trợ họ trên con đường.[2]

Cũng là một người anh lớn và một người cha, qua lá thư này cha muốn cảm ơn anh em nhân danh Dân Thánh và trung thành của Chúa về tất cả những gì anh em đã làm cho họ, và để động viên anh em đừng bao giờ quên những lời mà Chúa đã nói với chúng ta bằng tình yêu thương lớn lao trong ngày nhậm chức của chúng ta. Những lời đó là nguồn mạch niềm vui của chúng ta: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, … Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15:15).[3]

SỰ ĐAU KHỔ

“Ta đã thấy cảnh khổ cực của dân Ta” (Xh 3:7)

Trong những năm vừa qua, chúng ta đã lưu ý hơn tới những tiếng khóc, thường là âm thầm và bị bóp nghẹt, của những người anh chị em chúng ta là nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực, lạm dụng lương tâm và lạm dụng tình dục do các thức thừa tác viên thánh chức gây ra. Đây là một thời gian đau khổ rất lớn trong đời sống của những người đã trải qua những lạm dụng như vậy, nhưng cả với đời sống của gia đình của họ và của toàn thể Dân Chúa.

Như anh em biết, chúng ta cam kết mạnh mẽ thực hiện những cải tổ cần thiết để khuyến khích mở ra một văn hóa chăm sóc mục vụ, để văn hóa lạm dụng sẽ không còn đất phát triển, và không còn tái diễn. Trách vụ này không thể nhanh chóng cũng không dễ dàng: nó đòi hỏi sự cam kết của tất cả mọi người. Nếu trong quá khứ, sự chểnh mảng có thể là câu trả lời, ngày nay chúng ta khao khát sự hối cải, minh bạch, sự chân thành, và tình đoàn kết với các nạn nhân để biến thành một con đường tiến bước cụ thể của chúng ta. Và điều này sẽ giúp làm cho tất cả chúng ta biết quan tâm hơn đến mọi hình thức đau khổ của con người.[4]

Sự đau khổ này cũng ảnh hưởng đến các linh mục. Cha đã nhìn thấy điều đó trong suốt những chuyến thăm mục vụ của cha đến giáo phận của cha và khắp mọi nơi, trong những lần gặp gỡ và đối thoại riêng với các linh mục. Nhiều người đã chia sẻ với cha sự phẫn uất trước những gì đã xảy ra và sự thất vọng “vì tất cả những công việc cực nhọc của mình, họ phải đối mặt với sự tàn phá đã xảy ra, sự nghi ngờ và sự hoang mang mà nó ngày càng tăng cao hơn, và những sự hoài nghi, nỗi sợ hãi, và sự chán nản mà một số người cảm nhận”.[5] Cha đã nhận được nhiều thư từ các linh mục bày tỏ những cảm xúc này. Đồng thời, cha được an ủi bởi những cuộc gặp gỡ với các mục tử là những người nhận biết và chia sẻ nỗi đau đớn và đau khổ của các nạn nhân và của Dân Chúa và đã cố gắng tìm được những lời nói và hành động đủ sức mạnh truyền được niềm hy vọng.

Không chối bỏ hoặc bỏ qua sự nguy hại do một số người trong anh em của chúng ta gây ra, nhưng thật là không công bằng nếu không bày tỏ lòng tri ân tới tất cả những linh mục đã trung thành và quảng đại tận hiến cuộc đời để phục vụ tha nhân (x. 2 Cr 12:15).

Họ hiện thân vào vai trò người cha tinh thần có khả năng lau nước mắt cho những người than khóc. Không biết bao nhiêu linh mục đã biến cuộc sống của họ thành công cuộc của lòng thương xót trong những khu vực hoặc những hoàn cảnh thù hận, cô đơn hoặc bị bỏ rơi, thậm chí liều cả mạng sống của họ. Cha chân nhận và trân quý tấm gương can đảm và kiên định; trong những thời gian nhiễu nhương này, xấu hổ và đau đớn, anh em vẫn cho thấy rằng anh em hân hoan đặt cuộc sống của mình đứng ở hàng tiền tuyến vì lợi ích của Tin mừng..[6]

Cha vững tin rằng, khi chúng ta giữ lòng trung thành với thánh ý của Chúa, thì những thời gian thanh tẩy hiện tại của hội thánh sẽ làm cho chúng ta trở nên hân hoan và khiêm nhường hơn, và chứng minh trổ sinh nhiều hoa trái trong một tương lai không xa. “Chúng ta đừng cho phép mình bị nản chí! Chúa đang thanh tẩy Hiền thê của Người và hoán cải tất cả chúng ta trở về với Người. Người đang để chúng ta trong cuộc thử thách để làm cho chúng ta nhận ra rằng nếu không có Người, chúng ta chỉ đơn thuần là bụi tro. Người đang cứu chúng ta thoát khỏi thói giả hình, khỏi tinh thần chuộng hình thức bên ngoài. Người đang thổi hơi Thần Khí của Người để phục hồi lại vẻ đẹp của Hiền thê của Người, bị bắt phạm tội ngoại tình. Chúng ta sẽ tìm thấy ích lợi khi đọc lại chương mười sáu của Sách Ê-dê-ki-en. Đó là lịch sử của Giáo hội, và mỗi người chúng ta cũng có thể nói rằng nó cũng là lịch sử của chúng ta. Cuối cùng, với ý thức xấu hổ, anh em sẽ tiếp tục hoạt động như những người chăn chiên. Sự hối lỗi khiêm nhường của chúng ta, được thể hiện trong những giọt nước mắt thầm lặng trước các tội lỗi xấu xa này và sự vô biên của lòng tha thứ của Chúa, là bước khởi đầu của cuộc canh tân nên thánh của chúng ta.”.[7]

TRI ÂN

“Tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em” (Eph 1:16).

Còn hơn cả sự lựa chọn của chúng ta, ơn gọi là một sự đáp lời cho tiếng gọi của Chúa. Chúng ta hãy liên tục đọc lại các trích đoạn Tin mừng trong đó chúng ta thấy Chúa Giê-su cầu nguyện, chọn và gọi những người khác “để ở với Người và để Người sai đi rao giảng tin mừng” (Mc 3:14).

Đến đây cha nghĩ tới một người thầy vĩ đại cho đời sống linh mục ở quê nhà của cha, Cha Lucio Gera. Nói chuyện với một nhóm linh mục trong thời gian đầy xáo trộn ở Mỹ La-tinh, ngài nói với các cha: “Chúng ta phải luôn luôn quay trở lại với những giây phút huy hoàng khi chúng ta trải nghiệm tiếng gọi của Chúa để tận hiến cuộc đời phục vụ Người, đặc biệt trong những lúc thử thách này.” Bản thân cha thì thích gọi điều này là “ký ức Đệ Nhị luật ơn gọi của chúng ta”; nó khiến mỗi người chúng ta quay lại với “ánh sáng chói lòa đó khi mà ơn của Chúa chạm đến tôi ngay lúc khởi đầu hành trình. Từ ánh lửa đó, tôi có thể thắp sáng ngọn lửa cho hôm nay và mọi ngày, và mang đến hơi ấm và ánh sáng cho những người anh chị em của tôi. Ngọn lửa đó thắp lên một niềm vui khiêm nhường, một niềm vui mà sự phiền muộn và đau khổ không thể làm lo sợ, là một niềm vui tốt lành và nhẹ nhàng”.[8]

Một ngày kia, từng người chúng ta bật lên tiếng nói và thưa rằng: “xin vâng,” một tiếng “xin vâng” được phát sinh và phát triển trong tâm hồn của cộng đoàn Ki-tô hữu nhờ vào “những vị thánh nhân hàng xóm”[9] là những người cho chúng ta thấy rằng thật xứng đáng để thực thi cam kết trọn vẹn cho Chúa và vương quốc của Người qua đức tin đơn sơ của họ. Một tiếng “xin vâng” với những hàm ý của nó quá trọng đại đến mức chúng ta thường thấy thật khó mà hình dung được tất cả mọi sự tốt lành nó tiếp tục tạo ra. Thật đẹp biết bao khi một vị linh mục già được nhìn thấy hoặc được thăm viếng bởi những thiếu nhi kia – và bây giờ đã là người lớn – những người mà vị linh mục đó đã rửa tội trước đây rất lâu, và bây giờ với lòng tri ân đem gia đình của anh ta đến để giới thiệu! Trong những lúc như vậy, chúng ta nhận ra rằng chúng ta được xức dầu để xức dầu cho người khác, và rằng việc xức dầu của Chúa không bao giờ làm thất vọng. Cha xin dùng câu nói với Thánh Tông đồ: “Tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em” (x. Eph 1:16) và vì tất cả những điều tốt lành mà anh em đã làm.

Giữa những thử thách, yếu đuối và ý thức về những giới hạn của chúng ta, “cám dỗ xấu nhất là cứ nghiền ngẫm về những vấn đề rắc rối của chúng ta”[10] vì nếu như vậy chúng ta sẽ đánh mất quan điểm, mất đi khả năng đánh giá đúng đắn, và mất đi lòng can đảm của chúng ta. Trong những lúc đó, điều vô cùng quan trọng – mà cha thậm chí muốn nói là yếu tố sống còn – là phải nuôi dưỡng sự ghi nhớ của chúng ta về sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình và ánh mắt đầy lòng thương xót của Người, là điều đã truyền cảm hứng cho chúng ta dám đặt cuộc sống của mình vào hàng tiền tuyến cho Người và cho Dân của Người. Và để tìm được sức mạnh giúp kiên trì, và cùng với tác giả Thánh vịnh, chúng ta cất cao lời hát ngợi khen, “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136).

Lòng biết ơn luôn luôn là một vũ khí mạnh mẽ. Chỉ khi nào chúng ta có khả năng chiêm ngắm và cảm nhận lòng tri ân thật sự về tất cả những con đường chúng ta đã trải nghiệm được tình yêu, lòng quảng đại, tình liên đới, và sự tin cậy của Thiên Chúa, cũng như sự tha thứ, lòng kiên nhẫn, sự độ lượng và lòng trắc ẩn của Người, thì chúng ta mới có thể cho phép Thần Khí ban cho chúng ta sự tươi mới để có thể canh tân (chứ không đơn giản là chắp vá) đời sống và sứ mạng của chúng ta. Cũng như Phê-rô vào buổi sáng kéo mẻ lưới cá lạ lùng, ước mong rằng chúng ta cho phép sự nhận biết tất cả những ơn lành chúng ta đã đón nhận làm thức tỉnh sự kinh ngạc và lòng tri ân khiến chúng ta có thể thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8). Chỉ khi đó chúng ta mới nghe thấy Chúa lặp lại lời của Người: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta” (Lk 5:10). “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Anh em linh mục thân mến, cha xin cảm ơn anh em về sự trung thành với những cam kết anh em đã hứa. Nó là một dấu chỉ cho thấy rằng vẫn có những người không hề sợ hãi đưa ra những lời hứa trọn đời trong một xã hội và văn hóa tôn vinh sự phù du. Về căn bản, chúng ta cho thấy rằng chúng ta tiếp tục tin tưởng vào Chúa, Đấng không bao giờ hủy bỏ giao ước của Người, cho dù chúng ta đã phá vỡ nó không biết bao lần. Bằng cách này, chúng ta hân hoan trước sự trung tín của Thiên Chúa, Đấng vẫn tiếp tục tin tưởng chúng ta, tin vào chúng ta, dù bao tội lỗi và sa ngã của chúng ta đã phạm, và là Đấng mời gọi chúng ta đáp lại bằng lòng trung thành. Nhận biết rằng chúng ta chứa gia tài này trong những chiếc bình sành (x. 2 Cr 4:7), chúng ta biết rằng Thiên Chúa chiến thắng qua sự yếu đuối (x. 2 Cr 12:9). Người tiếp tục gìn giữ chúng ta và làm mới lại tiếng gọi của Người, trả lại cho chúng ta gấp trăm lần (x. Mc 10:29-30). “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Cảm ơn anh em về niềm vui mà nhờ nó anh em đã dâng hiến đời mình, qua những năm tháng thể hiện một tâm hồn chối bỏ mọi sự khép kín và cay đắng, nhưng phát triển từng ngày trong tình yêu đối với Thiên Chúa và Dân tộc của Người. Một tâm hồn cũng giống như rượu đã không biến thành vị chua nhưng trở nên đậm đà hơn theo năm tháng. “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”

Cảm ơn anh em về những công việc nhằm củng cố những mối dây ràng buộc của tình huynh đệ và tình bạn với các anh em linh mục và với giám mục của anh em, trao cho nhau sự hỗ trợ và động viên, chăm sóc cho những người đau bệnh, tìm kiếm những con chiên lạc, thăm hỏi người già và tiếp thu sự thông thái của họ, cùng nhau chia sẻ và học cách cười và khóc với nhau. Chúng ta rất cần những điều này! Nhưng cũng xin cảm ơn anh em về lòng trung thành và kiên trì của anh em khi thi hành những sứ mạng khó khăn, hoặc trong những lúc anh em đã phải góp ý cho một linh mục anh em. “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Cảm ơn anh em về chứng tá của anh em về sự kiên gan và kiên nhẫn chịu đựng (hypomoné) trong thừa tác vụ mục vụ của mình. Thường thường, với parrhesía của người chủ chăn,[11] chúng ta thấy cần phải tranh luận với Chúa trong lúc cầu nguyện, như Môi-sê đã can đảm làm khi can thiệp cho dân tộc (x. Ds 14:13-19; Xh 32:30-32; Đnl 9:18-21). “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Cảm ơn anh em về việc cử hành Thánh Lễ mỗi ngày và là những người chủ chăn đầy lòng thương xót trong Bí tích Hòa giải, không khắt khe cũng không lỏng lẻo, nhưng quan tâm sâu sắc đến giáo dân của anh em và đồng hành với họ trên hành trình hoán cải cho đời sống mới mà Thiên Chúa ban tặng cho tất cả chúng ta. Chúng ta biết rằng trên những bậc thang của lòng thương xót chúng ta có thể bước xuống những vực sâu của tình trạng con người chúng ta – gồm cả những yếu đuối và tội – đồng thời cảm nghiệm được những tầng cao của sự tuyệt đối của nước trời: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ”.[12] Theo cách này, chúng ta “có thể sưởi ấm tâm hồn con người, cùng sánh bước bên họ trong bóng đêm, cùng trò chuyện với họ và thậm chí bước vào đêm đen và bóng tối của họ, mà không sợ bị lạc lối của chúng ta”.[13] “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Cảm ơn anh em với việc xức dầu và hăng say loan báo cho muôn dân Tin mừng của Chúa Giê-su Ki-tô “lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (x. 2 Tm 4:2), tìm hiểu tâm hồn của cộng đoàn “để khám phá đâu là nơi mà sự khao khát Thiên Chúa vẫn đang sống động và rực cháy, cũng như đâu là nơi mà sự đối thoại đó, khi có tình yêu thương, đã bị ngăn trở và bây giờ trở nên cằn cỗi”.[14] “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Cảm ơn anh em vì những lúc anh em ôm lấy những tội nhân với tình cảm lớn lao, chữa lành những vết thương, sưởi ấm những tâm hồn và thể hiện lòng nhân từ và lòng trắc ẩn của người Sa-ma-ri Tốt lành (x. Lc 10:25-27). Không điều gì quan trọng hơn điều này: sẵn sàng, dễ gần, sẵn sàng đến gần với da thịt của những anh chị em đau khổ của chúng ta. Thật hùng hồn biết bao trước tấm gương của một người linh mục hiện diện và không né tránh những vết thương của người anh chị em của mình![15] Nó phản ánh tâm hồn của một người mục tử đã đạt được tinh thần để trở nên một với người dân của mình,[16] một người mục tử không bao giờ quên rằng chính mình từ họ mà ra và bằng cách phục vụ họ người mục tử sẽ tìm thấy và thể hiện được bản sắc tinh tuyền nhất và hoàn thiện nhất của mình. Đổi lại, điều này sẽ dẫn đến việc đón nhận một lối sống đơn sơ và giản dị, từ chối những đặc quyền đặc lợi chẳng liên quan gì với Tin mừng. “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Cuối cùng, chúng ta hãy cảm ơn vì sự thánh thiện của Dân trung thành của Chúa, là những người mà chúng ta được kêu gọi để chăn dắt và qua họ Chúa cũng làm chủ chăn và chăm sóc cho chúng ta. Người chúc phúc cho chúng ta bằng món quà khi chiêm ngắm những con người trung thành đó “nơi những người cha người mẹ nuôi dạy con cái của họ bằng tình yêu thương bao la, nơi những người nam và nữ lao động nhọc nhằn để chu cấp cho gia đình của họ, nơi những người bệnh, nơi những tu sĩ già nhưng không bao giờ đánh mất nụ cười. Trong sự bền chí mỗi ngày của họ, cha nhìn thấy sự nên thánh của người chiến sĩ Giáo hội”.[17] Chúng ta hãy tri ân từng người họ, và tìm thấy sự hỗ trợ và động viên trong chứng tá của họ. “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

ĐỘNG VIÊN

“Cha muốn tâm hồn của anh em được phấn khởi” (Cl 2:2)

Mong muốn thứ hai của cha là, lấy lời của Thánh Phaolo, để động viên khi chúng ta phấn đấu canh tân lại tinh thần tư tế của chúng ta. Đứng trước những kinh nghiệm đau đớn, tất cả chúng ta cần được ủi an và động viên. Sứ mạng mà chúng ta được kêu gọi không miễn cho chúng ta khỏi sự đau khổ, đau đớn và thậm chí sự hiểu lầm.[18] Hơn thế, nó đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn đối mặt với chúng và chấp nhận chúng, để Chúa có thể biến đổi chúng và làm cho chúng ta trở nên gần gũi hơn với Người. “Điều căn bản nhất là việc thiếu sự nhận biết về những giới hạn của chúng ta một cách chân thành và siêng năng cầu nguyện làm cản trở ơn sủng không hoạt động hiệu quả trong chúng ta, vì sẽ không có không gian để đạt được sự tốt lành như mong đợi, khi sự tốt lành đó không nằm trong hành trình phát triển đích thực và thật sự”.[19]

Một cách rất tốt để kiểm tra tâm hồn người mục tử chúng ta là đặt câu hỏi xem chúng ta đối mặt với sự đau khổ như thế nào. Chúng ta thường có thể hành động như thầy Lê-vi hoặc người tư tế trong dụ ngôn, bỏ qua và làm ngơ trước người đàn ông bị thương (x. Lc 10:31-32).

Hoặc chúng ta có thể tiếp cận theo cách sai lệch, nhìn các hoàn cảnh theo tính trừu tượng và và vin vào những lý lẽ thường tình, chẳng hạn: “Cuộc sống là thế …”, hoặc “Chẳng làm gì được đâu.” Theo cách này, chúng ta chịu đầu hàng trước thuyết định mệnh đáng lo ngại. Hoặc chúng ta có thể tiếp cận với một thái độ xa cách chỉ mang đến sự cách ly và loại trừ. “Giống như ngôn sứ Giô-na, chúng ta luôn luôn bị cám dỗ trốn chạy đến một nơi ẩn náu an toàn. Nó có thể có nhiều tên gọi khác nhau: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy linh, sống trong một thế giới nhỏ bé … ”[20] Chẳng làm chúng ta động lòng trắc ẩn, cuối cùng nó sẽ kìm hãm chúng ta không dám đối diện với những vết thương của chính mình, với những vết thương của người khác và tức là với chính những vết thương của Chúa Giê-su.[21]

Cùng với những thái độ này, cha muốn đề cập đến một thái độ rất tinh vi và nguy hiểm, thái độ, như Thánh Bê-na-đô thường nói, là “quý giá nhất trong những nọc độc của quỷ”.[22] Nó cũng là nguy hiểm nhất cho chúng ta là những người phục vụ Chúa, vì nó sinh ra sự ngã lòng, sự cô độc, và tuyệt vọng.[23] Sự bất mãn với cuộc sống, với Giáo hội hoặc với chính bản thân chúng ta, nó có thể xúi giục chúng ta giam hãm mình trong sự buồn phiền ngọt ngào hoặc nỗi buồn mà các Giáo phụ Đông phương gọi là acedia. Đức Hồng y Tomáš Špidlík mô tả nó bằng những lời này: “Nếu chúng ta bị dồn dập tấn công bởi sự buồn phiền với cuộc sống, với nhóm người khác hoặc với sự cô độc của chúng ta, đó là vì chúng ta thiếu niềm tin vào sự quan phòng của Chúa và công việc của Người … Sự buồn bã làm tê liệt khát khao bền chí với công việc và việc cầu nguyện của chúng ta; nó khiến chúng ta khó sống hòa hợp được … Những tác giả về đời tu đã chiến đấu với nọc độc này trong thời gian dài gọi nó là kẻ thù xấu nhất của đời sống tâm linh.”[24]

Tất cả chúng ta đều ý thức về sự buồn bã có thể biến thành một thói quen và dần dần làm chúng ta chấp nhận cái ác và sự bất công bằng cách âm thầm tự nhủ: “Cuộc sống luôn là như vậy.” Một sự buồn bã dập tắt mọi nỗ lực thay đổi và hoán cải bằng cách gieo sự phẫn uất và chống đối. “Như vậy đó không phải là cách sống một đời sống đầy phẩm giá và viên mãn; đó không phải là thánh ý của Chúa muốn cho chúng ta, và nó cũng không phải là sức sống của Thần Khí, là sức sống phát xuất từ nguồn cội trong trái tim của Đức Ki-tô Phục sinh,” mà chúng ta được kêu gọi hướng tới.[25] Anh em thân mến, khi sự buồn phiền ngọt ngào đó đe dọa khống chế đời sống chúng ta hoặc cộng đoàn của chúng ta, mà không hề sợ hãi hoặc băn khoăn, nhưng với sự cương quyết, chúng ta hãy cùng nhau nài xin Thần Khí “thức tỉnh sự mê mệt của chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi sự ù lỳ. Chúng ta hãy suy nghĩ lại cách chúng ta thường làm mọi việc; chúng ta hãy mở rộng đôi mắt và đôi tai, và trên hết là mở rộng tâm hồn chúng ta, để không tự mãn về những điều thuộc bản chất của nó, nhưng bồn chồn trước lời hằng sống thật của Chúa Phục sinh”.[26]

Cha lặp lại: trong những lúc khó khăn, tất cả chúng ta cần có sự ủi an và sức mạnh của Chúa, cũng như sự an ủi và sức mạnh của anh chị em chúng ta. Tất cả chúng ta đều có thể đạt ích lợi từ những lời chạm đến tâm hồn của Thánh Phaolo gửi các cộng đoàn của ngài: “Tôi xin anh em đừng nản chí khi thấy tôi phải gian truân vì anh em” (Eph 3:13), và “Tôi muốn anh em được phấn khởi trong tâm hồn” (Cl 2:2). Bằng cách này, một lần nữa chúng ta có thể thi hành sứ mạng Chúa trao cho chúng ta mỗi ngày: để loan báo “một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân” (Lc 2:10). Không phải bằng cách trình bày những học thuyết cao siêu hoặc những châm ngôn đạo đức về cách thức mọi việc phải đi theo, nhưng là những con người giữa sự đau đớn được biến đổi và biến hình bởi Thiên Chúa, và giống như Gióp, có thể kêu lên: “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” (G 42:5). Nếu không có những kinh nghiệm nền tảng này, mọi công việc nhọc nhằn của chúng ta sẽ chỉ dẫn đến tâm trạng thất vọng và chán ngán.

Trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta đã nhìn thấy được “việc kết hiệp cùng với Đức Ki-tô thì niềm vui luôn mãi được sinh ra”.[27] Mặc dù có những giai đoạn khác nhau trong trải nghiệm này, chúng ta biết rằng cho dù có những sự mỏng giòn và tội lỗi, “với lòng nhân từ không bao giờ làm thất vọng, nhưng luôn có thể phục hồi lại niềm vui của chúng ta, Thiên Chúa làm cho chúng ta có thể lại ngẩng cao đầu và làm lại một khởi đầu mới”.[28] Niềm vui đó không phải là kết quả của những tư tưởng hay quyết định của chúng ta, nhưng là kết quả của sự vững tin xuất phát từ việc biết được sự thật trường tồn của lời Chúa Giê-su với Phê-rô. Trong những lúc dao động, hãy nhớ đến những lời này: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin” (Lc 22:32). Chúa là người đầu tiên cầu nguyện và chiến đấu cho anh em và cho cha. Và Người mời gọi chúng ta hãy toàn tâm toàn ý bước vào việc cầu nguyện với riêng Người. Cũng có những lúc chúng ta phải đi vào “việc cầu nguyện của vườn Giết-si-ma-ni, là sự cầu nguyện mang nhân tính nhất và xúc động nhất trong những lời cầu nguyện của Chúa Giê-su … Vì ở đó chúng ta tìm thấy sự van xin, nỗi phiền muộn, sự thống khổ và thậm chí là hoang mang (Mc 14:33ff.)”.[29]

Chúng ta biết rằng thật chẳng dễ khi đứng trước mặt Chúa và để cho ánh mắt của Người xem xét chúng ta, chữa lành tâm hồn bị thương tổn và lau sạch những bàn chân lấm bẩn bụi trần trên đường đi, là những điều ngăn cản chúng ta tiến tới. Trong sự cầu nguyện, chúng ta trải nghiệm được “tình trạng dao động” được chúc phúc là điều nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta là những môn đệ cần có sự trợ giúp của Chúa, và giải thoát chúng ta khỏi khuynh hướng theo Promethean là “những người cuối cùng chỉ tin vào sức mạnh của chính họ cảm thấy vượt trội hơn vì họ nắm giữ những quy tắc”.[30]

Anh em thân mến, hơn ai hết, Chúa Giê-su rất hiểu những cố gắng và thành tựu của chúng ta, những thất bại và sai sót của chúng ta. Ngài là người đầu tiên nói với chúng ta: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28-29).

Trong sự cầu nguyện này, chúng ta biết rằng chúng ta không bao giờ cô đơn. Lời cầu nguyện của một mục tử ôm trọn cả Thần Khí và kêu lên “Abba, Cha ơi!” (x. Gl 4:6), và là những người tín thác vào sự chăm sóc của Ngài. Sứ mạng và bản sắc của chúng ta được xác định bởi sự biện chứng này.

Lời cầu nguyện của một mục tử được nuôi dưỡng và được hiện thân trong tâm hồn của Dân Chúa. Nó mang lấy những dấu ấn của sự đau khổ và niềm vui của Dân Người, là những người mà người mục tử âm thầm dâng lên Thiên Chúa để được xức dầu bởi ơn của Chúa Thánh Thần. Đây là niềm hy vọng của người mục tử, là người với lòng tin tưởng và kiên quyết xin Chúa chăm sóc cho sự yếu đuối của chúng ta theo từng cá nhân và một dân tộc. Tuy nhiên chúng ta cũng nhận ra rằng chính trong việc cầu nguyện cho Dân Chúa mà tâm hồn của người mục tử trở thành thịt và tìm được vị trí phù hợp. Điều này sẽ giải phóng chúng ta thoát khỏi việc tìm kiếm những câu trả lời nhanh, dễ dàng, và có sẵn; nó cho phép Chúa là người duy nhất chỉ ra con đường của sự hy vọng – không phải là những công thức và mục tiêu của chúng ta. Chúng ta đừng quên rằng trong những lúc khó khăn nhất của cuộc sống trong cộng đoàn tiên khởi, như chúng ta đọc thấy trong Sách Công vụ Tông đồ, việc cầu nguyện bùng lên như là sức mạnh hướng dẫn thật sự.

Thưa anh em, chúng ta phải thật sự chân nhận những yếu đuối của chúng ta, nhưng cũng hãy để cho Chúa Giê-su biến đổi chúng và một lần nữa sai chúng ta bước trên con đường sứ vụ. Chúng ta đừng bao giờ đánh mất niềm vui vì biết rằng chúng ta là “con chiên của đàn chiên của Người” và rằng Người là Chúa và là vị Mục tử của chúng ta.

Để tâm hồn của chúng ta được sưởi ấm, chúng không chối bỏ biện chứng luận xác định giá trị của chúng ta. Trước hết là mối quan hệ của chúng ta với Chúa Giê-su. Bất cứ khi nào chúng ta quay lưng lại với Chúa Giê-su hay chối bỏ mối quan hệ với Ngài, chắc chắn cam kết của chúng ta bắt đầu dần dần phai mờ dần và những ngọn đèn của chúng ta hết dầu cần thiết để thắp sáng cuộc đời chúng ta (x. Mt 25:1-13): “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. … vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:4-5). Liên quan đến việc này, cha động viên anh em không sao lãng sự linh hướng. Hãy tìm một người anh em để mình có thể nói chuyện, phản ánh, thảo luận và phân định, chia sẻ niềm tin trọn vẹn và sự mở lòng cho hành trình của anh em. Một người anh em khôn ngoan để chia sẻ kinh nghiệm vai trò của người tông đồ. Hãy tìm người anh em đó, gặp gỡ và tìm sự hướng dẫn, sự đồng hành, và cố vấn của người đó. Đây là một sự trợ giúp không thể thiếu để thi hành thừa tác vụ của anh em tuân theo thánh ý của Chúa Cha (x. Dt 10:9) và để cho nhịp đập con tim của anh em với “tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su” (Phl 2:5). Chúng ta có thể tìm thấy ích lợi trong những lời của Sách Giảng viên: “Hai người thì hơn một, … Người này ngã đã có người kia nâng dậy. Nhưng khi chỉ có một mình mà bị ngã thì thật là khốn, vì chẳng có ai nâng dậy cả!” (4:9-10).

Khía cạnh biện chứng khác của hội thánh là mối quan hệ của chúng ta với giáo dân. Hãy thúc đẩy mối quan hệ đó và mở rộng nó. Đừng chỉ thu hẹp trong những người của mình, trong những đồng môn của mình và trong cộng đoàn của mình, và càng bớt tìm sự thân cận với các nhóm khép kín và tinh hoa nhất. Cuối cùng, điều này sẽ làm ngột ngạt và đầu độc tâm hồn. Một thừa tác viên với “tâm hồn được sưởi ấm” là một thừa tác viên luôn chuyển động. Trong sự “tiến tới” của chúng ta, chúng ta bước đi “đôi lúc ở đằng trước, đôi lúc ở giữa và đôi lúc ở phía sau: ở đằng trước để hướng dẫn cộng đoàn; ở giữa để động viên và hỗ trợ, và ở phía sau để giữ cho cộng đoàn được hiệp nhất, để không ai bị bỏ rơi quá xa đằng sau … Cũng còn có một lý do khác: vì giáo dân của chúng ta có một “cái mũi” trước mọi điều. Họ ngửi thấy mùi, khám phá, những con đường mới để đi; họ có sensus fidei (x. Lumen Gentium, 12)… Còn điều gì đẹp hơn thế?”[31] Chính Chúa Giê-su là mẫu gương cho cách rao giảng này để dẫn chúng ta đi vào tâm hồn của giáo dân. Thật tốt biết bao cho chúng ta khi nhìn thấy cách Người quan tâm đến từng con người! Sự hy sinh của Chúa Giê-su trên thập giá chính là đỉnh cao của phong cách truyền giáo in đậm dấu ấn trong suốt cuộc đời của Ngài.

Anh em linh mục thân mến, nỗi đau đớn của quá nhiều nạn nhân, nỗi đau đớn của Dân Chúa và nỗi đau của chính mỗi con người chúng ta, không thể là vô nghĩa. Chính Chúa Giê-su đã mang gánh nặng này lên thập giá của Người và bây giờ Ngài yêu cầu chúng ta làm mới lại trong sứ mạng của mình là đến thật gần với những người đau khổ, đến gần mà không gượng ép trước nỗi thống khổ của con người, và quả thật phải đón lấy tất cả những kinh nghiệm này trở thành của riêng mình, như phép Thánh Thể.[32] Tuổi tác của chúng ta, được đánh dấu bằng những vết thương cũ và mới, đòi hỏi chúng ta phải trở thành những người xây dựng các mối quan hệ và hiệp thông, cởi mở, tin tưởng và chờ đợi trong hy vọng sự mới mẻ mà nước Thiên Chúa hứa mang đến ngay cả hôm nay. Vì đó là một vương quốc của những tội nhân được tha thứ được kêu gọi để làm chứng nhân cho lòng trắc ẩn đời đời của Chúa. “Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”

NGỢI KHEN

“Linh hồn tôi ngợi khen sự cao cả của Đức Chúa” (Lc 1:46)

Làm sao chúng ta có thể nói về lòng biết ơn và sự động viên nếu không nhìn đến Mẹ Maria? Mẹ, một người phụ nữ với trái tim bị đâm thâu (x. Lc 2:35), dạy cho chúng ta lời ngợi khen có thể nâng cao ánh mắt chúng ta hướng về tương lai và phục hồi lại hy vọng trong hiện tại. Toàn bộ cuộc đời của Mẹ chứa đựng trong bài ca ngợi khen (x. Lc 1:46-55). Cả chúng ta nữa cũng được kêu gọi để hát lên bài ca đó như là một lời hứa của sự kiện toàn tương lai.

Bất cứ khi nào cha viếng một đền thánh Maria, cha thích dành thời gian để ngắm nhìn Mẹ Đầy Ơn Phúc và để Mẹ nhìn đến cha. Cha cầu nguyện với lòng tin tưởng của một đứa trẻ, lòng tin của đứa trẻ nghèo và đứa trẻ đơn sơ biết rằng mẹ của chúng đang ở đó và rằng chúng có một vị trí trong trái tim của mẹ. Và khi ngắm nhìn Mẹ, lại một lần nữa nghe thấy giống như Thánh Juan Diego người Da đỏ: “Con trai yêu dấu của ta, có việc gì vậy? Đừng để điều đó làm bất an tâm hồn con. Không phải Mẹ đang ở đây sao, Mẹ là người vinh dự được làm mẹ của con?”[33]

Chiêm ngưỡng Mẹ Maria là “một lần nữa tin tưởng vào bản chất mang tính cách mạng của tình yêu và lòng nhân từ. Nơi Mẹ, chúng ta thấy rằng sự khiêm nhường và lòng nhân từ không phải là những đức tính của người yếu đuối nhưng là của người mạnh mẽ, là những người không đối xử với người khác một cách tệ bạc để cảm thấy mình là người quan trọng.”[34]

Có thể có những lúc, cái nhìn của chúng ta trở nên khó khăn, hoặc chúng ta có thể cảm thấy rằng sức mạnh đầy quyến rũ của sự thờ ơ hoặc tự thương cảm sắp bén rễ trong tâm hồn chúng ta. Hoặc ý thức của chúng ta là một phần sống động và không thể thiếu của Dân Chúa bắt đầu làm chúng ta kiệt sức, và chúng ta cảm thấy bị lôi cuốn bởi một chủ nghĩa thượng đẳng nào đó. Trong những khi đó, chúng ta đừng sợ hãi và hãy chạy đến với Mẹ Maria và cất lên lời hát ngợi khen của Mẹ.

Có thể có những lúc chúng ta cảm thấy bị cám dỗ co cụm vào bản thân và những công việc của chúng ta, an toàn thoát khỏi những con đường bụi bặm của cuộc sống hằng ngày. Hoặc nuối tiếc, phàn nàn, chỉ trích và mỉa mai chiếm phần hơn trong chúng ta và làm chúng ta đánh mất khát khao tiếp tục chiến đấu, tiếp tục hy vọng và yêu thương. Trong những lúc đó, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria để Mẹ có thể giải phóng tầm nhìn của chúng ta khỏi mọi “sự ồn ào” ngăn cản chúng ta không còn chú ý và cảnh giác, và từ đó mất khả năng nhìn thấy và cử hành Đức Ki-tô sống động giữa dân Người. Và nếu chúng ta thấy rằng chúng ta đang trở nên tro bụi, hoặc thấy chúng ta đang thất bại trước những cám dỗ hoán cải, thì chúng ta hãy hướng về Mẹ như một vị linh mục xứ vĩ đại thuộc giáo phận cũ của cha, ngài cũng là một nhà thơ. Ngài xin mẹ, bằng một nụ cười: “Tối nay, thưa Mẹ/ lời hứa của con rất chân thành; / nhưng chỉ là để bảo đảm, để không quên / để chìa khóa bên ngoài cửa””.[35] Mẹ của chúng ta “là một người bạn luôn luôn chú ý để rượu không bị thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Mẹ là người phụ nữ với trái tim bị đâm thâu bởi một mũi gươm và là người hiểu rõ mọi sự đau đớn của chúng ta. Là người mẹ của tất cả, Mẹ là dấu chỉ của hy vọng cho các dân tộc đang chịu sự đau đớn khi sinh nở của công bình … Là người mẹ thật, Mẹ bước đi bên cạnh chúng ta, Mẹ chia sẻ những cuộc chiến đấu của chúng ta và Mẹ luôn luôn che chở chúng ta bằng tình yêu thương của Chúa”.[36]

Anh em thân mến, một lần nữa, “cha không ngừng tạ ơn Chúa vì anh em” (Eph 1:16), vì cam kết và thừa tác vụ của anh em. Vì cha vững tin rằng “Thiên Chúa cất đi cả những tảng đá nặng nề nhất là những tảng đá có thể làm tan vỡ hy vọng và mong chờ của chúng ta: cái chết, tội, sự sợ hãi, tính trần gian. Lịch sử con người không kết thúc trước một bia mộ, vì hôm nay nó gặp được “viên đá sống động” (x. 1 Pr 2:4), là Chúa Giê-su Phục sinh. Là Giáo hội, chúng ta được xây dựng trên Ngài, và ngay cả khi chúng ta cảm thấy bị ngã lòng và bị cám dỗ phán xét mọi việc theo cái nhìn của những thất bại của chúng ta, Ngài đến để làm mọi sự trở nên mới”.[37]

Ước mong rằng chúng ta cho phép lòng biết ơn của chúng ta thức tỉnh lời ngợi khen và canh tân lại nhiệt huyết cho thừa tác vụ xức dầu cho các anh chị em của chúng ta với niềm hy vọng. Ước mong rằng chúng ta là những chứng nhân cho lòng trắc ẩn và thương xót mà Chúa Giê-su ban tặng cho chúng ta.

Nguyện xin Chúa Giê-su chúc lành cho anh em và Mẹ Maria Đồng Trinh bảo vệ anh em. Và cha xin anh em đừng quên cầu nguyện cho cha.

Thân ái,

PHANXICO

Roma, viết tại Vương cung Thánh đường thánh Gioan Lateran, ngày 4 tháng Tám năm 2019,

Lễ Thánh Gioan Vianney

 

————————-

[1] X. Tông thư Anno Iubilari (23 tháng Tư 1929): AAS 21 (1929), 312-313.

[2] Huấn từ tại Hội đồng Giám mục Ý (20 tháng Năm, 2019). Cương vị người cha tinh thần đòi hỏi giám mục không bỏ rơi những linh mục của ngài như người con mồ côi; điều đó được thể hiện qua việc sẵn sàng mở cửa ra cho các linh mục, nhưng cũng còn tìm kiếm họ để chăm sóc họ và đồng hành với họ.

[3] x. THÁNH GIOAN XXIII, Tông thư Sacerdotii Nostri Primordia nhân dịp kỷ niệm 100 ngày qua đời Thánh Gioan Vianney (1 tháng Tám, 1959): AAS (51 (1959), 548.

[4] x. Thư gửi Dân Chúa (20 tháng Tám, 2018).

[5] Gặp gỡ các linh mục, tu sĩ, người sống đời thánh hiến và chủng sinh, Santiago de Chile (16 tháng Một 2018).

[6] x. Thư gửi Dân Chúa Hành hương ở Chile (31 tháng Năm 2018).

[7] Gặp gỡ các linh mục của Giáo phận Roma (7 tháng Ba 2019).

[8] Bài giảng Lễ Vọng Phục sinh (19 tháng Tư 2014).

[9] Tông huấn Gaudete et Exsultate, 7.

[10] x. JORGE MARIO BERGOGLIO, Las cartas de la tribulación (Herder, 2019), 21.

[11] X. Huấn từ trước các linh mục xứ của Roma (6 tháng Ba 2014).

[12] Tĩnh tâm linh mục, Suy niệm thứ nhất (2 tháng Sáu 2016).

[13] A. SPADARO, Phỏng vấn Đức Thánh Cha Phanxico, tại La Civiltà Cattolica 3918 (19 tháng Chín 2013), t. 462.

[14] Tông huấn Evangelii Gaudium, 137.

[15] x. Huấn từ trước các linh mục xứ của Roma (6 tháng Ba 2014).

[16] x. Tông huấn Evangelii Gaudium, 268.

[17] Tông huấn Gaudete et Exsultate, 7.

[18] x. Tông huấn Misericordia et Misera, 13.

[19] Tông huấn Gaudete et Exsultate, 50.

[20] Ibid., 134.

[21] X. JORGE MARIO BERGOGLIO, Reflexiones en esperanza (Vatican City, 2013), p. 14.

[22] Journal d’un curé de campagne (Paris, 1974), t. 135; cf. Tông huấn Evangelii Gaudium, 83.

[23] Cf. BARSANUPH OF GAZA, Letters, in VITO CUTRO – MICHAŁ TADEUSZ SZWEMIN, Bisogno di paternità (Warsaw, 2018), p. 124.

[24] L’arte di purificare il cuore, Rome, 1999, t. 47.

[25] Tông huấn Evangelii Gaudium, 2.

[26] Tông huấn Gaudete et Exsultate, 137.

[27] Tông huấn Evangelii Gaudium, 1.

[28] Ibid., 3.

[29] JORGE MARIO BERGOGLIO, Reflexiones en esperanza (Vatican City, 2013), t. 26.

[30] Tông huấn Evangelii Gaudium, 94.

[31] Meeting with Clergy, Consecrated Persons and Members of Pastoral Councils, Assisi (4 Tháng Mười 2013).

[32] X. Tông huấn Evangelii Gaudium, 268-270.

[33] X. Nican Mopohua, 107, 118, 119.

[34] Tông huấn Evangelii Gaudium, 288.

[35] X. AMELIO LUIS CALORI, Aula Fúlgida, Buenos Aires, 1946.

[36] Tông huấn Evangelii Gaudium, 286.

[37] Bài giảng Lễ Vọng Phục sinh (20 tháng Tư 2019).

© Libreria Editrice Vatican

[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 5/8/2019]