“Một làn khói trắng,”

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau Chúa Nhật VI Phục Sinh năm C
Trần Ngọc Mười Hai | Chuyện phiếm Đạo/Đời

so7

“Một làn khói trắng,”

“Du đời vào quên lãng
Nâng sầu thành hơi ấm
Hơ dịu tình đau.”

(Vũ Thành An – Bài Không Tên số 7)

(Công Vụ 10: 34-35)

Không tên hay có tên, vẫn một bài hát ấy, cứ lờ-mờ như làn “khói trắng”, rồi “du đời vào quên lãng” “hơ dịu một tình đau.” Thế đó, là giòng nhạc có tình-tự thi-ca cũng rất cổ. Thi-ca cổ đây, là giòng thơ/âm-nhạc vẫn dìu người hát và người nghe đi vào chốn hồn người có nhịp-điệu nhịp “Slow” êm-ả, tình-tứ, khá lãng-mạn.

Còn gì lãng-mạn và trữ-tình bằng những ca-từ liên-tiếp hát như sau:

“Ngày tàn im ắng,
Yêu người làm tóc trắng.
Tâm sự rồi đến đắng,
Như lệ giờ biết nhau.

Đêm vỗ về nuôi nấng
Đêm trao ngọt ngào hương phấn
Buông lơi dòng tóc mỡ
Trên vùng ngày tháng vật vờ.”

(Vũ Thành An – bđd)

Vâng. Dù cho “tâm-sự ngày rất đắng” đến như thế, lại có “đêm vỗ về nuôi-nấng”, đôi lúc còn “buông lơi giòng tóc mỡ”, “trên vùng ngày tháng vật-vờ”, cả đời người.

Vâng. Đời người đi Đạo nay cũng thế. Vẫn thấy “tháng ngày vật-vờ”, vẩn vơ, “ú ớ” cũng rất nhiều. Nhiều, như lập-trường tư-tưởng những là thần-học mù-mờ, vu vơ thật rất nản.

Ấy chết! Có nản hay không do lời-lẽ hoặc ý-nghĩa vẩn vơ, “ú-ớ” ở lời kinh/câu hát nào! Nản một nỗi, là khi các cụ cứ “lửng-lơ-con-cá-vàng-trong-chậu-nước”, âm-thầm như một nhận-định ở giòng chảy trên mạng với chi-tiết sau đây:

“Cách nay 50 năm, tuần-báo Time có đăng ở trang bìa một giòng chữ rất lớn với câu hỏi: “Thượng Đế đã chết thật rồi sao?” Đây là câu-hỏi nóng, do nhà thần-học và triết-gia nọ khi trước từng để ra với thế-giới trần-tục ở phương Tây. Và, các chế-độ vô-thần lâu nay vẫn khuynh-loát phần còn sót của nhân-loại!

Hôm nay, một trong các chế-độ xưa/cổ ấy đã biến dạng. Và tôn-giáo, nay đang đoạt lại chỗ đứng của mình trong cuộc sống ở Nga và một số nước. Có chế-độ còn sửa-đổi cả lề lối chống-báng đạo-giáo mạnh đến độ: hôm nay, có đến chục triệu người Trung Hoa đã và đang trở-thành tín-hữu Đạo Chúa rất hiên-ngang. Nhà cầm quyền nước này, cũng đã quay lại hầu chuyện Đức Giáo-Chủ Công-giáo La Mã.

Riêng Châu Phi và nhiều nước Trung Đông, các nhóm/phái giáo-hội được hoạt động đến 100% khả-năng của mình. Tại Ấn Độ và các nước đang phát triển, dù theo đạo Chúa hoặc Hồi giáo, dù thuộc Ấn giáo hay đạo Phật, hiện vẫn thấy tồn tại một sức mạnh văn hóa, thật dũng-mãnh…

Nhưng, hỏi rằng: ở thế kỷ 21 này, Thiên Chúa có chết thật chăng? Câu trả lời ở đây, đang vang rền một tiếng “không” rất mạnh! Không. Ngài “không chết đâu anh!” Thật ra, đó chỉ là nỗ-lực của một số người muốn giết chết niềm tin của người đi Đạo, đến tận tuyệt, mà thôi.

Ở trời Tây bên ấy, điều này chừng như là mục-tiêu giết chết niềm tin của người đi Đạo vốn dĩ xảy ra qua ba đường-lối: một là, phong-trào trần-tục-hoá Đạo Chúa và nỗ-lực biến Đạo-giáo thành chốn/miền trần-tục, và/hoặc lèo lái đạo-giáo cho xa rời đời sống của chúng dân, thôi.

Thứ hai, là: các nỗ-lực như thế, nay bắt đầu cho thấy tự-do tôn-giáo không còn là vấn-đề sống còn chỉ ở Trung-Hoa, Pakistan, hoặc Ả Rập Sauđi thôi, nhưng cả đến các quốc-gia lâu nay từng chủ-trương cách-mạng giới-tính; đồng thời, họ lại đưa ra nhiều biện-pháp quyết hợp-thức-hoá phá thai, coi “đồng tính luyến-ái” như chuyện thường-tình; và mới đây nhất, họ còn tạo cởi mở về tính-chất phức-hợp/đa-dạng về giới-tính của con người nữa.

Nỗ-lực đây, lại đã kèm theo đòi hỏi về nhân-quyền có sự hợp-lực của luật pháp lâu nay vẫn mâu-thuẫn với niềm tin Do-thái-giáo và Hồi-giáo chuyên đặt nặng nhân-phẩm và sự phát-triển nhân-vị. Những thứ này, cùng với quyền-lợi mới được tạo đã khiến một số nhà cầm-quyền chấp-nhận cho chủ-nghĩa trần-tục và cảm-xúc dần dà chiếm-ngự tôn-giáo.

Tựu-trung thì: vấn-đề tự-do tôn-giáo không nghiêm-trọng như trước; và vì thế, các tín-hữu không còn bị hố sâu ngăn-cách gây xung-đột trong cộng-đoàn kẻ tin nữa. Và, các nhà thần-học vẫn bận-tâm chuyện “Thiên-Chúa đã chết rồi”, như tác-giả John T. Elson từng viết bài trên báo vào năm 1966 đã khẳng-định rằng: “Thiên-Chúa chết thật rồi!”

Dù có thế, ông vẫn đề-nghị mọi người hãy sống trung-thành với niềm tin mình có. Tác-giả, tuy đã viết về thứ “thần-học không có thần-linh” nhưng theo ông, Thiên-Chúa vẫn đồng-hành với ta cách này/cách khác. (X. Carolyn Moynihan, Is God dead? No, but our faith may be ailing, MercatoNet 08/4/2016)

Ấy đấy, là tâm-tư/tự-sự của người viết ở ngoài đời bàn chuyện cho vui, thôi. Chứ, bà đâu đòi một chuyển-đổi nào nơi nhà Đạo, ở trời Tây. Nhưng, đây lại là lập-trường “ngoài Đạo” của nghệ-sĩ đời với câu hát không mang tính thần-học nào hết, dù ông nay đã là “phó-tế vinh-viễn” ở Đạo Chúa rất Kitô. Lập-trường ông đề ra, là ý-tưởng vang bóng một thời về nữ-phụ, rồi gọi đó là “Bài Không Tên số 7”, như sau:

“Thân em rồi hoang phế,
Lê theo thời gian giông gió.
Thôi cũng đành cúi xuống,
Cho mộng đời thoát đi.

Một đời đổ cho tình yêu,
Từng đêm dòng nước mắt.
Sẽ nâng niu đời nhau (ừ) Đớn đau anh.
Sẽ cho nhau đời nhau (ừ) Xót xa em.
Dắt đưa nhau mối hận đời người.

Trả lại nước mắt,
Cho mệnh đời son sắt.
Thôi rồi em cũng mất,
Cho tình cúi đầu.

Một mình đi mãi.
Trên đường dài không thấy.
Ai người quen tôi đấy.
Bao giờ đời sẽ vơi.”

(Vũ Thành An – bđd)

Ấy! Thôi chết thật rồi bạn ơi, thế có khiếp không! Chết, là bởi: nếu bạn cứ tin rằng điều đó có thật, rất trữ-tình, thì đây: một tình-tự khác tuy không láng-mướt như một giảng-dạy rất hay ho, ở bên dưới.

Đó, là lập-trường thần-học của đấng bậc nọ ở trời Tây từng thổ-lộ:

“Có thể nói, một nhận-định lạ-lùng về bất cứ văn-bản chữ viết bắt gặp ở lịch-sử, là: lời-lẽ trong đó có chứa-đựng một thứ gì gọi là “Lời Chúa”. Khẳng-định như thế, tức bảo rằng: Thiên-Chúa là hữu-thể rất giống “con người”, ở một điểm là: Ngài cũng có khả-năng nói như con người và cho con người bằng ngôn-ngữ khiến họ hiểu được. Và, cả đến lập-trường/chủ-trương quyết rằng Thiên-Chúa đã “đầu-tư” một cách mật-thiết vào cuộc sống của con người theo dạng “thu nhỏ”.

Thật ra, chẳng cần gì phải ưu-tư/bối-rối chút nào vì những khẳng-định như thế đã được đưa ra suốt chiều dài lịch-sử ở phương Phương theo kiểu-cách nào đó, mà ta gọi là Kinh/Sách. Nhưng, tín-hữu Đạo Chúa chẳng khi nào coi trọng các đòi-hỏi của người “ngoài Đạo”, hết. Nói như thế, tức bảo rằng: các đòi-hỏi ở đây đã đến từ nguồn văn không thuộc về Đạo Chúa, vẫn bị coi là phi-lý.

Tuy nhiên, ta cũng chẳng cần đi đâu xa mới nhận ra rằng: Đạo Chúa diễn-tả điều này đều được bộc lộ bằng nghi-thức phụng-vụ thật đích-xác. Chẳng hạn như câu nói “Đó là Lời Chúa” ta vẫn quen nghe vào lúc kết-thúc các bài Sách thánh đọc ở thánh-lễ Chúa Nhật mà các Giáo-hội đều đưa vào phụng-vụ. Và, khi nghe câu nói ấy, cộng-đoàn dự lễ đều đồng-thanh đáp-ứng bằng câu thưa: “Tạ ơn Chúa”.  

Ở một số Giáo-hội chuyên rao-giảng Lời Chúa, những câu đáp/trả như thế còn nở rộ hơn nữa. Có Giáo-hội còn thay-đổi lời công-bố sau Phúc Âm bằng những lời như: “Xin Thiên Chúa chúc phúc thêm cho người đọc Lời Ngài ở đây hôm nay.”              

Tóm lại, gọi Kinh Sách là “Lời của Chúa” là điều thường tình trong truyền-thống từng khiến cho lưỡi ta uốn cong/tròn theo quán-tính, rất thuộc lòng nhưng ít khi ta để tâm ra tìm-hiểu xem điều ta nói như thế có nghĩa gì đích-thực.

Và rồi, vào các buổi chia-sẻ/học-hỏi Lời Kinh thánh trong Giáo-hội về một số vấn-đề xã-hội lớn lao, giới-chức có thẩm-quyền đều trích-dẫn hầu như thường-xuyên các văn-bản của Sách thánh. Và đấng bậc trích-dẫn những Lời rút từ Kinh thánh lại cứ cho rằng Kinh Sách rất thánh thật sự được đầu-tư với quyền-uy thế-lực của Đức Chúa…” (X. Tgm John Shelby Spong, A Claim that cannot endure, trong The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers 2005, tr. 15-16)

Thật tình mà nói, kể chuyện đời bằng lời lẽ của đấng bậc nhà Đạo bàn chuyện Đạo với lời lẽ rất đạo-mạo, thì như thế vẫn rất tuyệt. Kể chuyện đạo-làm-người ở đời, cũng có người từng kể theo cách-thức hoàn-toàn khác-biệt. Khác, như vị thiền-sư Phật-giáo nọ cũng kể như sau:

Một người không rõ về vận mệnh, đem thắc mắc của mình đi bái kiến một vị thiền sư:

– Thầy nói xem trên đời này có vận mệnh không ?

– Có .

– Nhưng , vận mệnh của con ở đâu ?

Vị thiền sư kêu anh ta xoè tay trái ra , chỉ anh ta xem và nói:

– Con thấy rõ chưa? Đường này là đường tình cảm , đường này gọi là đường sự nghiệp , còn đường kia là đường sinh mệnh.

Sau đó, vị thiền sư kêu anh ta từ từ nắm tay lại, nắm thật chặt. Thiền sư hỏi:

– Con nói xem, những đường đó nằm ở đâu rồi?

Anh ta mơ hồ bảo:

– Trong tay con này.

– Con hiểu vận mệnh của con ở đâu rồi chứ?

Vâng. Người kể hôm nay lại đính kèm thêm lời bàn, bảo rằng: vận-mệnh con người nằm gọn trong tay mình. Nhưng, nhiều thứ khác, tuy không gọi là vận-mệnh của trời của Phật, của đất trời, cũng khó biết.

Lời người kể lại cũng nói: người thanh-niên kia mỉm cười nhận ra vận-mệnh nằm ở trong tay mình. Nếu không tu, thì cứ sống theo nhân/quả đã có do nghiệp tạo. Có tu, thì dừng nghiệp và chuyển nghiệp. Nghiệp đổi, số phận đổi, tốt/xấu là do cách ta chuyển nghiệp, mà thôi.                                                       

Và người kể, còn thêm đôi ba nhận-định về chữ-nghĩa con người, rất để đời như sau:

SỰ THẬT có 6 chữ
GIẢ DỐI cũng 6 luôn
Mặt trái và mặt phải
Trắng đen ôi khó lường!

TÌNH YÊU có 7 chữ
PHẢN BỘI cũng thế thôi
Chúng là hình với bóng
Rất dễ dàng đổi ngôi.

Chữ YÊU là 3 chữ
HẬN là ba, giống nhau.
Người say men Hạnh phúc
Kẻ thành Lý Mạc Sầu.

BẠN BÈ có 5 chữ
KẺ THÙ đếm cũng năm
Hôm nao lời ngọt mật
Hôm nay chìa.. dao găm.

Từ VUI có 3 chữ
Tiếng SẦU cũng đồng như.
Quá vui thường mất trí,
Mất trí đời đổ hư.

Chữ KHÓC có 4 chữ
CƯỜI cũng vậy giống in
Ai “giòn cười tươi khóc”
Ai cảm thọ nhận chìm
Cuộc sống là hai mặt
Giới tuyến một đường tơ
Chấp nhận mà không vướng
Nhẹ bước qua hai bờ.”
(Nhận-định vận-mệnh, do Thích Tâm Tánh gửi trên mạng cho mọi người được đọc).

Suy về lời-lẽ/chữ-nghĩa của con người, tưởng cũng nên suy thêm về Lời của Đấng Thánh Nhân-Hiền từng nói cho con người và với con người như sau:

“Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng nói:
“Quả thật,
tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào.
Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa
và ăn ngay ở lành,
thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào,
cũng đều được Người tiếp nhận.
Ngài đã gửi đến cho con cái nhà Israel
Lời loan báo Tin Mừng bình an,
nhờ Đức Giêsu Kitô,
là Chúa của mọi người.”
(Công Vụ 10: 34-35)

Thành thử, chiếu theo những điều thánh-nhân hiền-lành trong Đạo từng nhận-định về “Lời” và lẽ rất chân-chính, thì cũng nên phân-biệt hai chữ “vận-mệnh” theo định-luật “dừng” nghiệp và “chuyển” nghiệp nơi lời lẽ, là như thế.

Nhưng, như thế vẫn chưa hẳn là có thể chuyển/đổi cuộc sống mà tin-tưởng vào “tình-thương-không-nghiệp-chướng”, rất vô bờ của Thiên-Chúa Đấng đã gửi “Lời” đến với ta, tình thương-yêu của Ngài, bao giờ cũng mạnh hơn nghiệp/chướng và vận-mệnh của bất cứ ai, trên đời này.

Là người, ai cũng có thể dùng tình thương-yêu rộng-mở đến với mọi người để mà “dừng”/mà “chuyển” cả vận-mệnh lẫn cái nghiệp-(rất)-chướng của con người. Không tình-thương, chắc chẳng ai thể làm được gì, kể cả những thứ rất chướng của nghiệp-dĩ hoặc “vận-mệnh” con người. Đó, là sự thật mà con người vẫn tìm kiếm mãi suốt đời mình.

Nói thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta hãy cất cao tiếng/giọng mà ca lên lời trần-tình rất thi-tứ của người nghệ-sĩ từng đề ra, cả khi chưa trở-thành “Phó-tế Vĩnh-viễn” trong Đạo Chúa. Những lời và lời như thế, vẫn được cất lên như sau:

Thân em rồi hoang phế,
Lê theo thời gian giông gió.
Thôi cũng đành cúi xuống,
Cho mộng đời thoát đi.

Một đời đổ cho tình yêu,
Từng đêm dòng nước mắt.
Sẽ nâng niu đời nhau (ừ) Đớn đau anh.
Sẽ cho nhau đời nhau (ừ) Xót sa em.
Dắt đưa nhau mối hận đời người.

Trả lại nước mắt,
Cho mệnh đời son sắt.
Thôi rồi em cũng mất,
Cho tình cúi đầu.

Một mình đi mãi.
Trên đường dài không thấy.
Ai người quen tôi đấy.
Bao giờ đời sẽ vơi.”

(Vũ Thành An – bđd)

Chính thế. Trên con đường dài cuộc đời, ta dù có thấy hay không thấy được ý-nghĩa của lời người nói ở đâu đó, vốn dĩ là “người quen mình đấy”, rồi cuộc đời sẽ vơi đi “nỗi buồn không tên” rất số 7, mà thôi.

Đúng vậy. Trên đường đời đi Đạo cũng thế, dù bạn và tôi, ta đã nghe rất nhiều lần “Lời” Kinh ở đâu đó trong Đạo hay ngoài đời, rồi cũng sẽ như “một đời đổ cho tình yêu”, “sẽ nâng niu đời nhau (ừ) đớn đau!”

Đúng là như thế. Lời thương-yêu, vẫn có thể chuyển-đổi cả một đời người. Vẫn rất vui.

Trần Ngọc Mười Hai
Nhiều lúc cũng có
Mối tâm-tư buồn cho chính mình,
Nhưng không phải
Bài Không Tên số 7.