Thứ Sáu, 22 Tháng Sáu 2018

LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

 

LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ
Lc 1, 57 – 66.80

  1. Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả
  2. Con Trẻ Lạ Lùng
  3. Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả
  4. Gioan Tiền Hô
  5. Thánh Gioan Tiền Hô
  6. Cái Bóng
  7. Sứ Mệnh Tiền Sứ Của Gioan Tẩy Giả – Lm Đan Vinh
  8. Đứa Trẻ Nầy Rồi Sẽ Thế Nào Đây – Lm Trần Ngà
  9. Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả
  10. Thánh Gioan Tẩy Giả – Lm Nguyễn Hồng Giáo
  11. Gioan Tiền Hô
  12. Sinh Nhật Gioan
  13. Chứng Nhân Của Cõi Vĩnh Hằng – ĐGM. Bùi Tuần
  14. Lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả
  15. Ngài Phải Lớn Lên
  16. Gioan Tiền Hô: Tên Gọi
  17. Khiêm Tốn Và Chăm Chỉ Làm Việc
  18. Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả

 

SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

 “Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan.  Ông đến để làm chứng về ánh sáng và chuẩn bị lòng dân sẵn sàng đón Chúa”( Ga 1, 6-7 ; Lc 1, 17).

Hôm nay, Hội Thánh mừng ngày sinh nhật của thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô  của Đấng cứu thế.

Thánh Luca thuật lại cuộc truyền tin cho Dacaria trong Luca 1, 5-25 với đầy đủ chi tiết.

Kinh Thánh kể lại rằng ông Dacaria và bà Eâlisabét, vợ của ông, sống công chính trước mặt Thiên Chúa, nhưng vợ ông lại son sẻ, vả lại cả hai ông bà đều cao niên ( Lc 1, 5-7 ). Thánh Luca kể tiếp:” Dacaria là tư tế, đã rút trúng thăm để tế tự cho Thiên Chúa trong đền thờ “( Lc 1, 8-9 ). Trong khi Dacaria dâng hương trong đền thờ, dân chúng tất cả đều đứng ở ngoài và cầu nguyện  (Lc 1, 10 ). Sự lạ xẩy ra là có sứ thần của Chúa hiện ra với ông Dacaria,đứng  bên phải hương án ( Lc 1, 11 ). Dacaria bối rối, nỗi sợ hãi ập xuống trên ông  ( Lc 1,12 ) và sự việc đã xẩy ra là sứ thần trấn an Dacaria, bảo ông:” Này   Oâng Dacaria, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời Oâng cầu xin: bà Eâlisabét, vợ Oâng sẽ sinh cho Ông một đứa con trai, và Oâng phải đặt tên cho con là Gioan( Lc 1, 13) và ” Cậu bé này sẽ thành vĩ nhân trước mặt Chúa, và ngay khi còn trong lòng mẹ, Cậu đã đầy ơn Thánh Thần. Nhiều người sẽ được hoan hỷ ngày Cậu ấy chào đời”( Lc 1, 14-15 ). Tin Mừng của thánh Luca  và của thánh Gioan đã cho nhân loại thấy cái lạ lùng của con trẻ Gioan. Đây quả là ơn nhiệm lạ, hồng ân cao quí Chúa ban cho nhân loại vì ngay khi còn trong bụng mẹ, thánh Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng lúc Đấng Cứu Độ trần gian ngự đến. Ngày chào đời, thánh nhân đã đem lại nhiều niềm vui. Thánh Gioan là vị ngôn sứ duy nhất đã chỉ cho nhân loại biết Đấng Cứu Thế là Đức Kitô, là Chiên Thiên Chúa đến cứu độ trần gian. Thánh Gioan và chỉ  mình Người đã rửa tội cho Chúa Giêsu trong dòng sông Giorđan và sau cùng chính thánh Gioan Tẩy Giả đã chịu chết để minh chứng cho Đấng Kitô, Đấng cứu  độ ( Lc 1, 39-79 và xem Kinh tiền tụng lễ thánh Gioan Tẩy Giả ).

Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói lên điều đó vì Ngài hiểu rõ Ngài hơn ai hết. Ngài phải đi trước dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Thánh Gioan Tẩy Giả sống đời sống rất khắc khổ: mặc áo lông, đồ ăn là châu chấu và mật ong rừng. Thánh nhân rao giảng sám hối và làm phép rửa. Đám đông dân chúng có nhiều người đã ngộ nhận Ngài là Đấng Mêsia, nhưng Gioan nói:” Tôi, Tôi làm phép rửa anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn Tôi đang đến, Tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa ( Lc 3, 16 ).Thánh Gioan đã phủ nhận vai trò Mêsia mà đám đông dân chúng gán cho Ngài vì gương sáng, lòng đạo đức, sự thánh thiện và những công việc Ngài đang làm. Thánh nhân đã gồm tóm cuộc đời của Ngài trong câu nói:” Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại “.   Thánh đã sống đích thực con người của mình, Ngài ý thức rằng:”…Người đến sau tôi nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi”( Ga 1, 15 ). Thánh Gioan được coi là vị ngôn sứ cao cả nhất trong dân Israen, đã qui tụ, thu hút được đám đông quần chúng nhân dân mà chưa có vị ngôn sứ nào làm được công việc ấy như Ngài. Tuy nhiên, để hoàn tất sứ mạng ngôn sứ cao cả Thiên Chúa trao phó cho Ngài, thánh Gioan Tẩy Giả đã để cho con người mình tan biến đi, nhỏ lại và mất hút trong kiếp tù đầy, trong cái chết chỉ vì Hêrođê, hứa với con gái:xin gì Oâng cũng cho dẫu nửa nước đi nữa và thánh Gioan, vị ngôn sứ đã bị rơi đầu vì ích kỷ, thù hận của một người vợ loạn luân của vua Hêrôđê. Thánh Gioan đã tan biến trong cái chết phi nghĩa, tàn bạo của một ông vua tồi tàn, còn Chúa Giêsu lại lớn lên trong vinh quang, trong mầu nhiệm thập giá của Ngài.

Gương can đảm nói lên sự thật cho dù sự thật kéo theo sinh mạng của Ngài, thánh Gioan đã thật hiên ngang loan báo cái chết của Đức Kitô để cứu độ nhân loại. Nhân loại trong đó có mỗi người chúng ta liệu có nhạy cảm và quảng đại, can đảm làm chứng cho Chúa Kitô hay không ? Thánh Gioan đã viết:” Sự thật sẽ giải phóng con người “. Mỗi người chúng ta có để cho Chúa lớn lên trong ta  hay chúng ta để cho bóng tối, tội lỗi, ích kỷ xâm lấn đời sống chúng ta ? Thập giá có là nguồn sống để chúng ta vươn tiến hay chúng ta tránh né và sợ thập giá ?  Đẩy lùi những cản trở của hận thù, của ích kỷ, của hờn căm, Chúa mới thực sự lớn lên trong ta.

Lạy Chúa, Chúa đã sai thánh Gioan tẩy Giả đến chuẩn bị cho dân Chúa sẵn sàng đón Đức Kitô. Xin rộng ban cho các tín hữu được đầy tràn niềm vui của Thánh Thần, và xin hướng dẫn họ bước vào con đường cứu độ và bình an ( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Gioan Tẩy Giả ).

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT     

MỘT CON TRẺ LẠ LÙNG

Việc lạ lùng của Gioan Tẩy Giả đã được đánh dấu ngay từ lúc cha mẹ của Gioan đặt tên cho ông. Thường dân Do Thái tên của người cha, tên của họ hàng nội phải được đặt tên cho đứa bé mới sinh ra. Ở đây, cái huyền diệu, linh thánh đã xẩy ra ngay lúc cắt bì cho con trẻ.Lúc cắt bì cũng là lúc đặt tên cho đứa bé. Mọi người cứ tưởng lấy tên cha Giacaria đặt tên cho bé, nhưng bà Êlisabét lên tiếng:” Không, phải đặt tên cháu là Gioan ” ( Lc 1, 60 ). Đây là cái tên do chính Thiên thần đã báo trước cho Giacaria biết ông và vợ ông sẽ sinh được một cháu trai dù hai ông bà đã luống tuổi, cao niên không thể nào sinh con nếu không có bàn tay Thiên Chúa can thiệp…

Mở đầu Tin Mừng thứ tư, thánh Gioan viết:” Có một người Thiên Chúa sai đến tên là Gioan. Ông đến để làm chứng cho ánh sáng và chuẩn bị lòng dân sẵn sàng đón Chúa”( Ga 1, 6-7 ). Địa vị và vai trò của Gioan Tẩy Giả rất quan trọng và lớn lao trong hàng ngũ các ngôn sứ của lịch sử dân Chúa. Bởi vì việc mang thai con trong lúc tuổi già củavợ chồng ông Giacaria và Elisabét đã nói lên việc kỳ diệu của Thiên Chúa nơi con trẻ Gioan. Tên con trẻ trong ngôn ngữ Do Thái là ” Jehohanan “. Chữ này có nghĩa ” Thiên Chúa là ân sủng “. Vì con trẻ là hồng ân nhưng không,cao vời Thiên Chúa dành cho Gioan Tẩy Giả, cho toàn dân và cho ông bà Giacaria, nên ai nấy đều bỡ ngỡ ( Lc 1, 63 ). Sau khi đứa trẻ được đặt tên, Giacaria dâng lên Thiên Chúa một lời ngợi khen tuyệt vời, Ông đã dâng con ông cho Thiên Chúa và nói: ” Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao : con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người,bảo cho dân Chúa biết : Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên”( Lc 1, 76-77 ). Tới tuổi trưởng thành, khôn lớn Gioan Tẩy Giả từ giã gia đình đi vào hoang địa, đi vào rừng vắng để ăn chay cầu nguyện, chuẩn bị sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Tin Mừng thuật lại, đời sống của Gioan Tẩy Giả rất khổ hạnh: ” Thức ăn của Người là châu chấu và mật ong rừng”. Tuy thân xác khổ hạnh, nhưng tinh thần của Người tràn đầy niềm vui . Do đó, Gioan Tẩy Giả quả thực nắm một vai trò rất quan trọng trong lịch sử dân Chúa.

Mình Gioan được đặc ân dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Gioan Tẩy Giả đã trình bầy và giới thiệu Chúa Cứu Thế như là hồng ân cao quí tuyệt vời Thiên Chúa ban tặng nhưng không cho nhân lọai, cho con người, cho mỗi người chúng ta. Chúa là chiên Thiên Chúa và là Đấng xóa tội gian trần. Tin Mừng viết:” Năm thứ mười lăm dưới triều Hòang Đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philipphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônít…có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Giacaria là ông Gioan trong hoang địa …rao giảng,kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội và sửa sọan cho ngày Đấng Cứu Thế tới “( Lc 3, 1-6 ). Mọi người dân Do Thái tuôn đến để nghe Gioan rao giảng và tin vào Người nhưng Gioan đã vội minh xác :” Tôi không phải là Đấng Cứu Thế, sẽ có một người đến sau tôi và tôi không xứng đáng cởi dây giầy Người “( Lc 3, 16 ). Chính Chúa Giêsu cũng tới xin Gioan làm phép rửa cho mình. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nhận ra Chúa Giêsu và chỉ cho các môn đệ của mình biết Đấng Cứu Thế. Thánh nhân đã đề cao vai trò cứu thế của Chúa:” Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”( Ga 3, 30 ). Thánh Gioan Tẩy Giả đã thi hành sứ mạng dọn đường rất nghiêm ngặt và công minh. Ngài không sợ thế gian, nên Ngài đã quở trách nặng lời Hêrôđê vì vua đã lấy vợ em mình. Ngài đã bị tống giam vào ngục và bị chém đầu vì một lời hứa khờ dại của vua Hêrôđê.

Lạy Chúa, Chúa đã sai thánh Gioan Tẩy Giả đến chuẩn bị cho dân Chúa sẵn sàng đón Đức Kitô. Xin rộng ban cho các tín hữu được đầy tràn niềm vui của Thánh Thần, và xin hướng dẫn họ bước vào con đường cứu độ và bình an. Người hằng sống và hiển trị muôn đời (Lời nguyện nhập lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả).

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

Pt. Phêrô Đặng Phi Hùng

Từ thế kỷ thứ 4 cả hai giáo hội Đông phương lẫn La tinh đều mừng lễ Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả một cách trọng thể vào 6 tháng trước Lễ Chúa Giêsu Giáng Sinh. Gioan Tẩy Giả còn được gọi Gioan Tiền Hô hay Loan Tin (Forerunner/Herald), người đi trước dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Trong Giáo hội Công giáo, ngày lễ kính một vị thánh là ngày từ trần của vị ấy, quen gọi là “ngày tái sinh trên trời.” Nhưng chỉ có Thánh Gioan Tẩy Giả được biệt kính vào cả ngày sinh nhật lẫn ngày lìa đời, vào Chúa nhật như Chúa nhật tuần nầy vì cuộc đời Thánh Gioan gắn liền với cuộc đời Ngôi Hai Thiên Chúa: Gioan loan tin nhưng Chúa Giêsu là thông điệp; Gioan là tiếng kêu mà Chúa Giesu là Sự Thật; Gioan nhắc lại lời hứa của Thiên Chúa nhưng Chúa Giesu làm hoàn hảo lời hứa đó; Gioan rao giảng thống hối nhưng Chúa Giesu mang lại sự thứ tha; Gioan kêu gọi công bình và hoán cải nhưng Chúa Giêsu ban ân sủng tăng sức mạnh cho thay đổi và lớn lên; Gioan dọn đường nhưng Chúa Giesu chính là Đường.

Cuộc đời của Thánh Gioan và Chúa Giêsu rất lạ thường: Sự thụ thai của hai con trẻ được báo trước bởi cùng một Thiên Thần Gabriel; Cả hai được sinh ra bởi hai người nữ đáng lẽ không thể có con: bà Elizabeth tuổi đã già trong khi Đức Mẹ khấn trọn đời đồng trinh, không biết đến người nam; Cả hai con trẻ được đặt tên và trao nhiệm vụ từ lúc còn trong lòng mẹ: Gioan/Đấng Tiền Hô và Giêsu/Đấng Cứu Thế (Lk. 1:5 & 1:26); Cuối đời Thánh Gioan chịu chết vì đức tin và nhiệm vụ của Ông trước khi Chúa Giesu chịu chết vì tội nhân loại chúng ta trên Thánh Giá;

Chúa Giêsu cần Gioan loan báo trước khi đến như Thánh Gioan cần cha là Zachariah khỏi câm để xác nhận tên và nhiệm vụ Chúa giao phó cho mình (Lk. 1:64); Đức Mẹ cần thăm viếng bà Elizabeth để hài nhi Gioan giới thiệu hài nhi Giesu trong cung lòng các bà mẹ được chúc phúc.

Cuộc đời tiền hô và làm chứng của T. Gioan được tóm gọn lại trong 3 điểm:

1) Một Ngôn sứ đã làm phép rửa, rao giảng và giới thiệu Chúa Kitô đến với mọi người.

Sau khi xong nhiệm vụ giới thiệu, Ông tránh sang một bên để Chúa trực tiếp liên hệ với người ta.

2) Khiêm nhường nhưng cương quyết:

theo Phúc âm thuật lại sau khi làm phép rửa cho Chúa Giesu tại sông Jordan, chính mắt Ông đã thấy Chúa Thánh Thần với hình chim bồ câu đậu trên đầu Chúa Con và nghe trên trời có tiếng phán: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Ngài.” (Mk. 1:9) Ông giới thiệu đến toàn dân: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian….Ngài đến sau tôi nhưng có trước tôi, và tôi không xứng đáng cởi giây giầy cho Ngài.” (Jn. 1:15) Lần kia khi đứng với hai môn đệ thì bắt gặp Chúa Giesu đi qua, Ông chỉ cho môn đệ: “Đây chính là Đấng Messiah-Thiên sai.” Sau đó hai môn đệ đã bỏ Ông và theo làm môn đệ Chúa Giesu (Jn. 1:35). Lần khác Ông tuyên bố: “Chúa Kitô phải được nâng lên, còn tôi phải hạ xuống.” (Jn. 3:30) Ông cương quyết nhất định không nhượng bộ hành động trái luân lý và luật Chúa của vua Hêrođê dù việc đó dẫn đến cái chết (Lk. 3:19).

3) Tính cách nhân bản rất người của Gioan:

Sinh ra bởi một cặp vợ chồng rất già là một sự lạ; Cha bị câm suốt thời gian mẹ mang thai cũng lạ; Nhảy mừng trong lòng khi được hài nhi Giesu trong cung lòng Đức Mẹ tới thăm càng lạ hơn; Lớn lên được tràn đầy Chúa Thánh Thần khi chứng kiến biến cố rửa tội ở sông Jordan với Chúa Ba Ngôi, thế nhưng không vì thế mà Gioan không có những thao thức, trăn trở về đức tin, về tâm linh theo Thánh ý Chúa. Một hôm lúc đang bị giam trong tù chỉ vì dám nói lên sự thật đã chỉ trích Vua Herode cướp vợ của anh mình, sống với chị dâu tên Herodia, Gioan đã phái môn đệ đến hỏi Chúa Giesu: “Thưa Thầy, Thầy chúng tôi muốn biết Thầy có phải là Đức Kitô Đấng đến để cứu nhân loại hay chúng tôi còn phải chờ một Đấng nào khác?” Chúa Giesu đáp: “Yes! Hãy về nói cho Gioan biết những điều mà các con thấy: người mù được thấy, người què được đi, người cùi được sạch, người điếc nghe được, người chết trỗi dậy, người nghèo được nghe tin mừng…” (Lk. 7:19)

Suy nghĩ về cuộc đời Thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta tìm được 3 ý niệm để cùng nhau suy nghĩ trong những ngày tới:

1/ Sau khi được rửa tội, mỗi chúng ta cũng phải làm chứng cho Chúa Kitô, phải nói sự thật và cương quyết sống sự thật, cho dù điều đó đôi khi làm chúng ta thiệt thòi, đau khổ hoặc dẫn đến cái chết như Gioan. Thánh Gioan chỉ vì nói lên sự thật, cố gắng giúp đỡ cho vua Hêrôđê tốt hơn, nhưng hậu quả dẫn đến cái chết tức tưởi trong tù vì bị bà Herodia chị dâu sống bất hợp pháp với Herođe hãm hại.

2/ Là Kitô hữu chúng ta phải sống khiêm nhường: “Chúa phải lớn lên trong ta và cái tôi trong ta phải hạ xuống.” Sau khi giới thiệu Chúa cho người ta rồi thì đừng có nhận làm “tổng đại lý” của Chúa mà hỏng việc Chúa! Bổn phận chúng ta gieo còn Chúa cho ai gặt tuỳ Chúa, đừng thắc mắc, cũng đừng kể công mà mất phúc.

3/ Trong đời sống đức tin đôi lúc chúng ta có thể đặt câu hỏi nhưng đừng ngã lòng mất lòng trông cậy nơi Chúa. Phó thác không có nghĩa là gặp cái gì cũng tin, hoặc gặp cái gì cũng đòi phải được chứng minh. Đức tin và Đời sống người Kitô hữu là một bí nhiệm mà chỉ có Tình thương và lòng trông cậy vào Lời Chúa như Thánh Gioan Tẩy Giả mới giải đáp được.

Xin Thánh Gioan Tiền Hô giúp Kitô Hữu chúng con dám can đảm Tin và cương quyết Làm Chứng cho Chúa cho dù nơi trần thế chúng con chưa thấy được Chúa tỏ tường. Amen.

GIOAN TIỀN HÔ

Gioan Tiền hô là người của Thiên Chúa. Ông đã được sinh ra một cách lạ lùng từ một người mẹ thuộc hàng son sẻ và đã cao niên. Son sẻ là một nỗi, tủi nhục đối với người phụ nữ Do Thái vào thời bấy giờ. Bởi vậy, bà Êlisabéth khi biết mình mang thai đã thốt lên:

– Chúa đã làm cho tôi như thế, vào thời Ngài cất nỗi khổ nhục của tôi giữa người đời. Bởi vì lòng dạ không mang thai là một lòng dạ đã chết. Nhưng chính nơi những cái chết ấy mà Thiên Chúa thi thố quyền năng của Ngài.

Lịch sử cũng cho thấy từ những người đàn bà hiếm muộn, Thiên Chúa đã cho trỗi dậy những khuôn mặt lỗi lạc.

Tư tưởng và đường nẻo của Thiên Chúa thì khác với tư tưởng và đường nẻo của chúng ta. Chẳng hạn từ cung lòng Đức Trinh nữ Maria, vị cứu tinh muôn dân mong đợi sẽ ra đời. Và từ cái chết trên thập giá, Thiên Chúa đã làm nảy sinh sự sống mới. Công trình cứu chuộc hoàn toàn là một sáng kiến của Thiên Chúa xuất phát từ tình thương bao la của Ngài.

Ông Giacaria, cha của Gioan Tiền hô, trong lúc hứng khởi vì được chứng kiến những việc lạ lùng Thiên Chúa làm khi khởi đầu thời cứu độ, đã nói về vai trò của Gioan trong bài ca chúc tụng:

– Con sẽ là tiên tri của Đấng Tối cao. Con sẽ loan báo việc Thiên Chúa và dọn đường cho Ngài.

Dọn đường để chào đón một nhân vật quan trọng là một hình ảnh quen thuộc. Đường sá thì ghồ ghề khó đi, dân làng được huy động để san bằng những chỗ lồi lõm. Thế nhưng Chúa Giêsu không phải chỉ đi trên những con đường xứ Palestine, mà Ngài còn muốn đến với cõi lòng của mỗi người. Và như thế, công việc dọn đường của Gioan có nghĩa là rao giảng sự hoán cải trong dân để được tha thứ: lưỡi rìu đã kề sẵn gốc cây, cây nào không sinh hoa kết trái thì sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa.

Tin mừng đã mô tả Gioan như một vị tiên tri. Ông được xức dầu một cách thiêng liêng ngay từ trong lòng mẹ để hiến dâng cho Thiên Chúa. Ông được đầy tràn Thánh Thần và có được những đặc điểm của một vị tiên tri. Và như các vị tiên tri khác, ông có nhiệm vụ rao giảng sự sám hối ăn năn. Và theo cái nhìn của Chúa Giêsu, ông còn hơn cả vị tiên tri nữa, bởi vì ông là sứ giả của Thiên Chúa:

– Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt ngươi.

Và Chúa Giêsu còn lớn tiếng khẳng định:

– Trong những kẻ bởi người nữ, thì không có ai lớn hơn Gioan. Nhưng người nhỏ hơn trong nước Thiên Chúa, lại lớn hơn ông.

Điều đó có nghĩa là Gioan thuộc về giai đoạn chuẩn bị và trong giai đoạn chuẩn bị này, thì ông là người lớn hơn cả. Nhưng người đến sau ông, tức là Đức Kitô Con Thiên Chúa làm người, vị cứu tinh của thời buổi sau hết, lại lớn hơn ông. Cái lớn lao của ông là cái lớn lao của công việc chuẩn bị, dẫn người ta đến với Đức Kitô, vì thế khi Đức Kitô bắt đầu xuất hiện trước công chúng để rao giảng Tin mừng, thì lập tức ông lui vào bóng tối vì vai trò của ông đã hoàn tất như lời ông đã nói:

– Ngài cần phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi.

Còn chúng ta thì sao? Mỗi người chúng ta cũng phải là một Gioan Tiền hô giữa lòng cuộc đời, nghĩa là chúng ta cũng phải dẫn đưa mọi người đến tìm gặp Chúa. Bởi đó, với một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, chúng ta cũng sẽ là những tiền hô, giới thiệu khuôn mặt đích thật của Đức kitô cho những người chung quanh chúng ta.

THÁNH GIOAN TIỀN HÔ

Suy nghĩ về thánh Gioan Tiền Hô, tôi nhận thấy Ngài có một chỗ đứng quan trọng, một vị trí đặc biệt trong Kinh Thánh cũng như trong phụng vụ.

Trước hết là trong Kinh Thánh.

Thực vậy, không có một vị thán nào mà cuộc đời được Kinh Thánh diễn tả một cách đầy đủ cho bằng thánh Gioan Tiền Hô. Kinh Thánh đã kể lại từ việc ông Giacaria dâng hương trong đền thờ đến việc bà Isave thụ thai. Từ việc Đức Maria tới thăm viếng đến việc bà Isave sinh nở. Từ ngày mở mắt chào đời với những sự việc kỳ diệu của Chúa, đến những năm tháng xuất hiện công khai với một cuộc sống khắc khổ. Từ những lời rao giảng gắt gao cho đến lúc bị tống nục và cái chết anh dũng dưới lưỡi gươm của Hêrôđê. Ngài là vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, nhưng đồng thời lại là một vị thánh lớn của Tân Ước. Ngài chính là một nhịp cầu thông cảm nối liền Cựu Ước với Tân Ước, đến nỗi Chúa Giêsu đã phải lên tiếng ngợi khen: “Trong số những kẻ được sinh ra bởi người nữ, không có ai cao trọng hơn Gioan”.

Tiếp đến là trong phụng vụ.

Đối với tất cả các thánh, chúng ta thường mừng kính vào ngày chết, tức là ngày các ngài được sinh ra cho cuộc sống vĩnh cửu, được bước vào quê hương Nước Trời. Ngoài Chúa Giêsu, thì Giáo Hội chỉ mừng kính ngày sinh của Mẹ Maria và thánh Gioan Tiền Hô mà thôi. Bởi vì tất cả chúng ta, dù là các thánh thì khi mở mắt chào đời, cũng đã mang lấy dấu vết nhơ bẩn của tội nguyên tổ, cũng đã sống trong một tình trạng thù địch với Thiên Chúa. Trong khi đó thì Mẹ Maria được đặc ân vô nhiễm, còn thánh Gioan thì được tẩy sạch nhờ sự thăm viếng của Mẹ Maria, khi còn là một thai nhi trong lòng bà thánh Isave.

Như thế Gioan Tiền Hô đã là thánh kể từ khi lọt lòng mẹ, kể từ khi bắt đầu cuộc sống trần thế. Sở dĩ như vậy vì Chúa muốn cho Gioan được chuẩn bị để báo trước sự xuất hiện của Ngài.

Đúng thế vai trò của Gioan là vai trò của người tiền hô, chuẩn bị cõi lòng mọi người đón nhận Đấng cứu thế, vai trò của người đi trước dọn đường Chúa đến. Nếu Đức Kitô là mặt trời rực sáng thì Gioan Tiền Hô là hừng đông và một khi mặt trời đã xuất hiện ngày mới khởi đầu thì hừng đông không còn nữa. Ý thức được vai trò của mình nên Gioan đã xác quyết với đám đông: “Ngài cần phải lớn lên còn tôi phải nhỏ đi”.

Với chúng ta cũng vậy ngay từ khi chúng ta mở mắt chào đời, Thiên Chúa cũng đã nhìn chúng ta bằng một ánh mắt trìu mến, và nhất là Ngài đã dành cho chúng ta một ơn gọi, ơn gọi ấy là trở nên như những vị tiền hô, chuẩn bị và dọn đường Chúa đến trong tâm hồn những người chung quanh. Thế nhưng chúng ta đã thực sự là những vị tiền hô của Chúa hay là bằng một đời sống bê tha và tội lỗi, gian tham và thù oán, chúng ta đã nhẫn tâm dập tắt ngọn lửa nhỏ bé của những tâm hồn thiện chí, đang muốn tìm gặp Chúa.

CÁI BÓNG (Trích ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia)

Có một người khờ nọ muốn thoát khỏi cái bóng của mình… Nhưng càng trốn thì cái bóng càng đeo đuổi anh. Anh lăn lộn trên đất, anh đâm xuống nước, dù anh đi đâu, dù anh làm gì, cái bóng của anh vẫn còn đó.

Có một người khôn ngoan nghe chuyện mới đến cố vấn cho anh khờ. Người khôn ngoan ấy nói như sau: “Để thoát khỏi cái bóng của anh, anh chỉ cần đến đứng dưới bóng của một cây lớn”.

Có nép mình dưới bóng cây Thập giá của Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể thoát được cái bóng của không biết bao nhiêu phù phiếm, hư ảo trong cuộc sống của chúng ta.

Hôm nay Giáo Hội mừng kính trọng thể ngày sinh của một con người đã từng nép bóng dưới cây Thập giá của Chúa Giêsu. Con người ấy chính là Goan Tẩy Giả, vị tiền hô của Đấng Cứu Thế, nhưng đồng thời cũng là người luôn nép bóng trong Chúa Giêsu.

Thánh Gioan đã tóm tắt tất cả cuộc sống của Ngài trong câu nói: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”. Dưới cái nhìn của con người, như Chúa Giêsu cũng đã có lần khen tặng, Gioan là con người cao cả nhất được sinh ra từ người nữ. Ngày sinh của Ngài được đánh dấu bằng những biến cố khác thường. Sự chào đời của Ngài đã mang lại niềm vui và hy vọng cho mọi người xung quanh. Vị tiên tri được xem là là cao cả nhất trong lịch sử Isreal ấy đã lôi kéo được một đám đông mà chưa từng có vị tiên tri nào đã quy tụ được… Thế nhưng, cuối cùng, để hoàn tất sứ mệnh của mình, con người ấy đã nhỏ lại và mất hẳn trong kiếp tù đày và một cái chết bỉ ổi.

Gioan nhỏ lại trong cái chết ấy, nhưng Chúa Giêsu lớn lên trong Mầu Nhiệm của Ngài, bởi vì cái chết của Gioan là một loan báo về chính cái chết của Chúa Giêsu… Nhưng cũng chỉ trong cái chết của Chúa Giêsu, cái chết của Gioan mới có ý nghĩa… Trong bóng thập giá của Chúa Giêsu, Gioan đã tìm lại được chính mình.

Chúng ta cầu xin điều gì trong ngày sinh của thánh Gioan Tẩy Giả nếu không phải là bước đi trong từng bước nhỏ lại của Ngài. Trong từng bước ấy, chúng ta hãy đặt mình dưới bóng vĩ đại của Thập giá Chúa Giêsu. Chỉ trong chiếc bóng vĩ đại ấy của Thập giá Chúa Giêsu, những nghịch cảnh, những đau thương, những nghi ngờ và ngay cả những cái chết từng ngày sẽ mang lấy ý nghĩa. Và ý nghĩa ấy là gì nếu không phải là sự lớn lên của Đức Kitô trong chúng ta?

Chúng ta có nhỏ lại trong cái nhìn hẹp hòi ích kỷ của chúng ta, chúng ta có nhỏ lại trong những ham muốn ganh tỵ bất chính của chúng ta, chúng ta có nhỏ lại trong hận thù nhỏ nhen của chúng ta, thì lúc đó Đức Kitô mới thực sự lớn lên trong chúng ta.

SỨ MẠNG TIỀN SỨ CỦA GIOAN TẨY GIẢ – Lm Đan Vinh

  1. HỌC LỜI CHÚA
  2. Ý CHÍNH:

Bài Tin mừng hôm nay tập trung vào lễ nghi cắt bì và đặt tên con trẻ Gioan. Khi được chứng kiến những sự lạ lùng, nhất là sự kiện Da-ca-ri-a được khỏi bệnh câm, mọi người đều bỡ ngỡ và thắc mắc về sứ mệnh của em nhỏ sau này. Về sau Gioan đã vào sống trong hoang địa cho đến trước khi Đức Giêsu ra giảng đạo, Gioan đã đến vùng sông Gio-đan thi hành sứ mệnh tiền sứ để giúp dân Ít-ra-en chuẩn bị tâm hồn đón Đấng Thiên Sai là Đức Giêsu sắp đến.

  1. CHÚ THÍCH: PHÉP CẮT BÌ TRONG ĐẠO DO THÁI

+ Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì: Cắt bì là một nghi lễ có từ lâu đời trong đạo Do thái, do lệnh Thiên Chúa truyền (x Gs 5,2). Đây còn là một dấu chỉ hữu hình của Giao ước giữa Thiên Chúa với dân Do thái mà mọi bé trai đều phải mang trên da thịt mình (x Xh 4,26). Tuy nhiên, Ngôn sứ Giê-rê-mi-a lại cho thấy cắt bì trong tâm hồn mới là điều quan trọng (x Gr 9,24; 4,4). Cũng như Gioan, Đức Giêsu cũng đã chịu nghi lễ cắt bì và đặt tên (x Lc 2,21).

+ Về sau, trong thời Giáo hội sơ khai: Theo đề nghị của thánh Phao-lô, để các Ki-tô hữu gốc lương dân khỏi phải chịu đựng cái ách nặng nề của Luật Mô-sê mà họ không chu tòan được (x Gal 6,12.15), thì Công Đồng Giê-ru-sa-lem đã quyết định như sau: Không buộc lương dân muốn gia nhập đạo phải chịu phép cắt bì của đạo Do thái trước khi được lãnh bí tích Rửa tội (x Cv 15,5-6.10-11.28-29), mà chỉ đòi họ có một đức tin hành động nhờ đức ái trong Chúa Ki-tô là đủ (x Gl 5,6).

  1. CÂU HỎI:

1- Tại sao bà Êlisabét không đồng ý đặt tên cho con trẻ là Da-ca-ri-a mà là Gioan?
2- Hãy cho biết những sự lạ nào đã xảy ra trong nghi lễ cắt bì và đặt tên của Gioan Tẩy giả?
3- Cắt bì là gì? Những ai được chịu phép cắt bì? Phép cắt bì nhằm mục đích gì ?
4- Tại sao ngày nay khi theo đạo công giáo, lương dân không còn phải chịu phép cắt bì trước khi chịu phép rửa tội để gia nhập vào Hội thánh?

  1. SỐNG LỜI CHÚA:
  2. LỜI CHÚA: “Đức Ki-tô phải nổi bật lên, còn Thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30).
  3. CÂU CHUYỆN VÀ SUY NIỆM: CUỘC ĐỜI CỦA GIOAN TIỀN SỨ

Gioan là vị Tiền hô của Chúa Giêsu (x.Mt 3,3). Gioan là con của ông Da-ca-ri-a và bà Êlisabét. Cả hai thuộc dòng tộc tư tế. Bà Êlisabét là chị họ của Đức Maria, nên Gioan là anh bà con của Đức Giêsu. Cha mẹ của Gioan sống ở miền núi xứ Giu-đê (x Lc 1,39). Từ nhỏ, Gioan đã sống cuộc đời ẩn tu khổ hạnh trong sa mạc. Đến năm thứ 15 thời Hoàng đế Tibêria, Gioan mới xuất hiện tại vùng hoang địa miền Giuđê cạnh sông Giođan để rao giảng và làm phép rửa sám hối cầu ơn tha tội (x.Mt 3,1). Phép rửa của ông là một nghi thức thống hối kèm theo việc xưng thú tội lỗi (x. Mt 3,6). Gioan đã nhận biết Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai khi giới thiệu Người với các môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,29). Có lần đức Giêsu gọi Gioan là Ê-li-a khác, là người lớn nhất trong Cựu ước, là tiên tri loan báo Nước Trời (x.Mt 11,2 -19; Lc 7,18-33).

Cuộc đời của Gioan kết thúc bằng hình khổ bị chém đầu trong nhà tù, do ông can đảm bênh vực cho công lý, dám lên tiếng can ngăn vua Hêrôđê không được lấy bà chị dâu Hêrôđiađê làm vợ. Do đó ông đã bị tống giam vào ngục và sau đó còn bị giết hại (x. Lc 9,7-9).

  1. THẢO LUẬN: Chúng ta cần làm gì để noi gương các nhân đức của Gioan như: khiêm nhường (x Ga 3,30), khó nghèo (x Mc 1,6-8), vâng phục (x Mt 3,13-15), trung tín (x Ga 1,35-37), thật thà (x Ga 1,20-23), dũng cảm (x Mt 14,3-4; Lc 3,7-9).
  2. NGUYỆN CẦU

– LẠY CHÚA GIÊSU. Thánh Gioan đã thực hiện sứ mệnh tiền hô kèm theo những dấu lạ, khiến mọi người phải bỡ ngỡ thán phục. Đời con chẳng có những dấu lạ như thánh Gioan. Cũng như bao người khác, Chúa muốn con trở thành chứng nhân cho tình thương của Chúa. Xin cho con trở thành dấu chỉ để người đời nhận biết Chúa, qua lối sống bác ái yêu thương tha nhân và khiêm nhường phục vụ, nhất là phục vụ những người nghèo đói noi gương Chúa xưa.

– LẠY CHÚA. Thánh Gioan Tẩy giả đã nêu gương khiêm tốn và làm chứng cho Chúa. Làm chứng trong cuộc sống hôm nay chính là: Tự làm mình lu mờ đi bằng việc ít nói về mình, không khoe khoang thành tích của mình, để Chúa được lớn lên nơi tha nhân. Làm chứng cho Chúa hôm nay cũng là: sống điều độ chừng mực, tránh thói tiêu xài xa hoa lãng phí và sự chè chén say sưa. Làm chứng cho Chúa hôm nay còn là chỉ đường giúp nhiều người nhận biết và theo làm môn đệ của Chúa. Xin Chúa giúp chúng con luôn biết sống đơn sơ khó nghèo, can đảm làm chứng cho sự thật và không bao giờ chịu lùi bước trước những khó khăn trở ngại gặp phải trong cuộc sống hằng ngày.

  1.  Hiệp cùng Mẹ Maria

Đ. Xin Chúa nhậm lời chúng con.

ĐỨA TRẺ NÀY RỒI SẼ THẾ NÀO ĐÂY – Lm Trần Ngà

Không những thánh Gioan sống đẹp mà chết cũng rất hào hùng…

Một người láng giềng của tôi thuật lại: Trong thời gian người vợ mang thai, anh cầu ngày cầu đêm cho được con trai. Tối 28 tết, anh chồng thấp thỏm chờ đợi thời khắc đứa con chào đời. Hy vọng sẽ là đứa con trai như lòng anh mong ước.

Thế rồi vào khoảng 10 giờ tối, khi nghe cô đỡ báo tin người vợ sinh con trai, anh quá đỗi vui mừng, vội chạy vào nhà lấy hai dây pháo thật dài, treo ngay dưới hai chuồng bồ câu giữa sân, bật quẹt châm ngòi. Hai tràng pháo nổ giòn vang dội cả xóm. Tất cả bồ câu đông đảo trong hai chuồng hoảng hốt vỗ cánh bay tán loạn không sót một con!

Niềm vui có đứa con chào đời quá lớn khiến người cha trót dại treo hai dây pháo ngay dưới chuồng bồ câu khiến chúng bay sạch, gây tổn thất không nhỏ cho kinh tế gia đình.

Một niềm vui còn lớn hơn nhiều đã đến với hai ông bà Da-ca-ri-a khi bé Gioan chào đời. Mọi người lân cận đến chúc mừng hai ông bà được Chúa thương cho sinh con trong tuổi già. Ai cũng chúc mừng mẹ tròn con vuông. Ai cũng trầm trồ khen đứa bé thật dễ thương đang nằm trong lòng mẹ. Ai cũng mỉm cười với bé, đặt nhiều hy vọng vào bé: “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em” (Lc 1,66).

Thế rồi cậu bé Gioan lớn dần lên theo năm tháng mà không để cho bất kỳ ai thất vọng. Người đã sống đẹp và đã chết hào hùng.

Gioan sống đẹp vì dám từ bỏ đời sống dễ dãi tiện nghi nơi gia đình lối xóm, rút vào trong hoang địa khô cằn để sống gắn bó với Thiên Chúa, chú tâm lắng nghe và thực hiện ý Người.

Gioan sống đẹp khi có được một số môn đệ theo mình, thì người cũng không ngần ngại giới thiệu họ đến với Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa (Ga 1, 36) để họ trở thành môn đệ Chúa Giê-su, một bậc Thầy cao cả hơn.

Gioan sống đẹp khi được dân chúng ngưỡng mộ, xem mình như một ngôn sứ cao cả, thì Gioan lại chỉ cho họ biết có Đấng cao cả hơn đang đến, Đấng mà Gioan không đáng cởi quai dép cho (Ga 1, 27), để cho đám đông thôi ngưỡng mộ Gioan mà quay sang ngưỡng mộ Chúa Giê-su.

Gioan sống đẹp khi chủ trương rằng: “Chúa Giê-su phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3, 30).

Đời sống cao đẹp của thánh Gioan đã được Chúa Giê-su nhìn nhận: “Trong các phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gioan” (Mt 11, 11).

Không những thánh Gioan sống đẹp mà chết cũng rất hào hùng. Thời bấy giờ không ai dám đả động đến hành vi loạn luân của vua Hê-rô-đê với người chị dâu là Hê-rô-đi-a-đê. Chỉ mình Gioan dám đứng lên tố cáo tội lỗi nhà vua cho dù phải lãnh lấy án chết. Gioan anh dũng chấp nhận chết để bảo vệ giềng mối đạo đức cho tôn giáo và xã hội. Đó là cái chết đẹp vô cùng.

Mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta hãy nhớ lại ngày sinh nhật của chúng ta. Đó là giây phút lịch sử đáng ghi nhớ nhất đời. Ngày ấy, cha mẹ, ông bà, cô bác đều mừng vui vì ta được sinh ra đời. Ai cũng muốn nhìn ta, ai cũng mỉm cười với ta, ai cũng muốn bồng ẵm ta… và ai cũng đặt nơi ta một niềm hy vọng: “Trẻ nầy rồi sẽ nên như thế nào?” Cha mẹ và bà con hy vọng ta sẽ có tương lai xán lạn, hy vọng ta sẽ đem lại danh giá cho gia đình và họ hàng. Nhưng mãi cho đến hôm nay, chúng ta đã đáp ứng được niềm hy vọng đó chưa?

Nguyện xin Thiên Chúa giúp chúng ta sống sao cho đẹp như Gioan để không làm cho gia đình họ hàng thất vọng đồng thời để dọn đường cho Chúa đến với mọi người.

Nguyện xin Thiên Chúa giúp ta chết sao cho đẹp, để lại tiếng thơm cho đời như thánh Gioan.

SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

  1. Vào một buổi trình diễn văn nghệ nọ; trong số đó có những người thợ mỏ, những người đàn ông, đàn bà, con trẻ… đang dự buổi trình diễn, người ta bỗng nghe thấy tiếng khóc của một đứa trẻ con. Nhưng từ trong đám người thợ mỏ, người ta thấy một người có thân hình vạm vỡ, đầu tóc rậm rì, ông đứng lên ghế la lớn: – “Yêu cầu ban nhạc tạm ngưng một lúc, để chúng tôi nghe tiếng khóc của đứa bé. Biết bao nhiêu năm rồi tôi chưa được nghe những âm thanh kỳ diệu ấy”.

Thế là cả ban nhạc và các ca sĩ đều dừng lại và tiếng đứa bé khóc càng lớn hơn. Người ta thấy những giọt nước mắt lăn trên gò má của những người xa vợ, xa con, xa chồng…

Đại thi hào Victor Hugo của Pháp đã có lý khi nói: “Không gì buồn thảm cho bằng một ngôi nhà không có tiếng cười, tiếng khóc của những trẻ thơ”. Trẻ thơ là niềm vui, là hy vọng của con người. Người Mỹ thường nói: “Mỗi một trẻ thơ được sinh ra đều có thể làm Tổng Thống tương lai của Hoa kỳ”. Thật thế, mỗi một đứa trẻ sinh ra đều là niềm vui, niềm hy vọng cho gia đình, cho dân tộc, cho quốc gia.

Hôm nay Giáo hội tưởng niệm ngày sinh của một con người mà đã có lần Chúa Giêsu ca ngợi là: “Người cao trọng nhất trong số những người sinh ra bởi người nữ” (Mt 11,11)

Quả thật! không kể Mẹ Maria, Thánh Gioan Tẩy giả là vị thánh duy nhất được Giáo hội mừng ngày sinh nhật. Ngày sinh của thánh Gioan sẽ loan báo một kỷ nguyên mới cho nhân loại mà Chúa Giêsu sẽ khai mở. Cha của ngài là một người câm, mẹ ngài là một người đàn bà son sẻ. Trong bối cảnh đó, ngày chào đời của Thánh Gioan Tẩy giả loan báo rằng: thời của Đấng Cứu Thế đã đến, thời của sự câm lặng đã trở thành loan truyền của ơn cứu độ. Thời mà sự son sẻ đã trở thành đông con nhiều cháu. Ngày sinh của Gioan Tẩy giả là thời loan báo về ngày cứu độ. Lời loan báo ấy mà Thánh Gioan đã không ngừng hô lớn trong những ngày sau này, ngài chính là tiên tri của Chúa, ngài chính là đấng tiền hô của Chúa.

  1. Mừng ngày sinh của Thánh Gioan Tẩy giả, Giáo hội cũng muốn nhắc nhở mỗi người Kitô hữu chúng ta về sứ mạng làm tiên tri và sứ giả của mình. Ngày sinh của Thánh Gioan Tẩy giả mời gọi chúng ta nhớ lại ngày tái sinh của chúng ta.

Nhờ phép rửa, chúng ta đã trở thành ngôn sứ loan báo hồng ân cứu độ của Chúa. Ngọn nến Giáo Hội trao cho chúng ta trong ngày lãnh phép rửa là biểu trưng cho ánh sáng mà chúng ta phải không ngừng chiếu tỏa ra xung quanh. Dù sống trong hoàn cảnh nào, người tín hữu Kitô chúng ta cũng phải có sứ mệnh chiếu toả ánh sáng ấy (Mt 5,16). Ngạn ngữ có câu: “Nếu bạn không trở thành sao sáng ở trên trời, thì ít ra bạn hãy trở thành ngọn đèn soi sáng trong nhà bạn”.

  1. Mừng ngày sinh nhật của thánh Gioan Tẩy giả, chúng ta cũng còn phải nhớ lại con đường Ngài đã đi qua, con đường ấy được Ngài góm tọn trong khẩu hiệu: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”.

“Chúa Giêsu phải được lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”.

Tạp chí “Truyền bá đức tin” có thuật lại câu chuyện một cụ già Ấn Độ như sau. Lúc còn là thanh niên, anh đã say sưa nghiện ngập đủ mọi thứ: cà phê, thuốc lá, rựơu mạnh có tiếng. Nhưng rồi một hôm, chàng đọc thấy trên mặt báo lời kêu gọi giúp nuôi chủng sinh ở các giáo phận nghèo. Đọc xong chàng rất đổi phân vân, một đàng chàng muốn mình phải làm một cái gì đó, đàng khác, chàng thấy những thứ đó quá hấp dẫn, chả có vẻ tội lỗi gì cả!

Tuy nhiên, chàng đã quyết định: bỏ tất cả… nhưng dần dần với thời gian. Chàng đóng góp số tiền tiêu sài ấy vào quĩ truyền bá đức tin để giúp nuôi ít chủng sinh nghèo. Cứ thế liên tiếp trong mấy mươi năm, nhiều thế hệ chủng sinh, linh mục đã được chàng giúp đỡ. Họ liên lạc thư tín với chàng mỗi lúc một nhiều…Thời gian trôi qua, đến ngày chàng thanh niên nghiện ngập thành ông cụ già 85 tuổi. Ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 85 của cụ, cụ tuyên bố trước mặt họ hàng: “Với những hy sinh suốt mấy mươi năm qua, tôi đã đài thọ cho việc huấn luyện các chủng sinh, và đến nay, con số các linh mục rải rác khắp nơi được tôi giúp đỡ đã lên đến 30 mươi người. Tôi rất hạnh phúc. Tôi đã đầu tư thành công, và tôi sẽ còn tiếp tục đầu tư như thế cho đến giờ Chúa gọi”.

Vâng cụ già đã biết làm cho mình nhỏ đi và cho Chúa được lớn lên, lớn lên qua những cánh tay nối dài của Ngài.

Ước gì khẩu hiệu này cũng trở thành lý tưởng và luật sống của mỗi người chúng ta. Sống đối với người tín hữu Kitô chúng ta là sống cho Chúa. Sống đối với người tín hữu Kitô chúng ta là không ngừng khước bỏ và cắt xén đi những gì là thừa thãi trong cuộc sống, để trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu. Sống đối với người tín hữu Kitô chúng ta là suy nghĩ và hành động trong Chúa Kitô, để dung mạo của Ngài được chiếu sáng trong chúng ta, và nhờ ơn cứu độ của Ngài được loan báo cho mọi người.

  1. Gioan còn có tước hiệu là Tẩy Giả. Ngài đã kêu gọi mọi người sám hối và làm phép rửa sám hối cho những kẻ thật lòng ăn năn.

Đến phiên chúng ta cũng vậy, không thể khác được. Cũng không cần chúng ta phải làm được những chuyện kỳ vĩ như Gioan Tẩy Giả, nhưng với tư cách là Tẩy Giả, là “những chuyên gia tẩy sạch vết bẩn” của ngày hôm nay, chúng ta cũng được mời gọi để góp một chút bột giặt tình yêu và tha thứ mà làm sạch tấm chăn môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng bởi những thứ rác rưởi dầu mỡ của vụ lợi ích kỷ, của hưởng thụ sa hoa, của ghen tức hận thù, của dối trá lưu manh… Và như thế chính là giúp mở đường dọn lối cho Chúa đến với những mảnh hồn đang hạn hán đang cần đến những cơn mưa tình thương và Ơn Cứu Độ của Chúa.

Có một lần ông Ra-un cùng vợ đến thăm một trại cùi. Ông bà thường vẫn có thói quen bắt tay các anh chị em phong cùi vì họ biết bệnh phong cùi khó lây lan.

Ông giám đốc trại cùi dẫn hai ông bà đi thăm trại và giới thiệu với họ trường hợp của một nữ bệnh nhân tên là Tella. Ông Ra-un giơ tay ra định bắt tay Tella, nhưng bà này vội giấu tay lại phía sau lưng nhanh như chớp rồi nói:

– Luật cấm bắt tay.

Thấy ông giám đốc có vẻ ngượng ngùng, ông Ra-un hỏi:

– Thế ở đây có cấm ôm hôn người cùi không?

Ông giám đốc bối rối trả lời:

– Luật của chúng tôi không dự trù trường hợp này.

Ông Ra-un liền kết luận:

– Như thế là được phép ôm hôn người bệnh phải không?

Nói rồi ông Ra-un ôm và hôn bà Tella với tất cả lòng thương mến chân thành. Cử chỉ yêu thương bất ngờ ấy của ông Ra-un như một tiếng sét đập tan và tiêu hủy tất cả mọi ngăn cách sợ sệt giữa hàng trăm anh chị em phong cùi đứng chung quanh và sau đó người cùi nào cũng muốn ôm hôn ông Ra-un, người tông đồ nhiệt thành và là bạn đáng yêu của hàng triệu anh chị em phong cùi trên khắp thế giới. Ông thường nói: Tôi không phải là bác sĩ nên tôi không thể chữa cho họ lành bệnh được. Tôi chỉ có thể thương họ thôi, bởi vì họ cũng là con cái của Chúa.

Xin nhắc lại ở nơi đây một lời của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã nói lời này để kết thúc một dụ ngôn nổi tiếng của Chúa. Đó là dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu: “Anh hãy đi và làm như thế” Chúng ta hãy đi và làm như thế. Amen.

THÁNH GIOAN TẨY GIẢ – Lm Nguyễn Hồng Giáo

Trong Giáo hội, ngày lễ kính một vị thánh là ngày tử trần của vị ấy, quen gọi là “ngày sinh nhật trên trời” của người, ngày người sinh ra trên trời. Duy chỉ có thánh Gioan Tẩy Giả là được kính mừng cả trong ngày Người sinh ra lẫn trong ngày Người tạ thế. Tưởng không có gì lạ. Tất cả cuộc đời của thánh nhân từ lúc sinh ra, và ngay cả trước lúc sinh ra, chỉ là một lời chứng duy nhất cho Chúa Giêsu.

Con người của một sứ mạng

Có những người cho rằng người ta sinh ra ở đời là “bị vất vào đó”, một cách tình cờ, vu vơ, vô nghĩa. Thông thường hơn, người ta nói mỗi người có một định mệnh. Trước định mệnh ấy con người đành bó tay chịu đựng, không cách nào thoát ra được. Người Công giáo thì tin rằng mỗi người sinh ra là do ý muốn đầy yêu thương của Thiên Chúa, rằng không phải một sức mạnh mù quáng hay khắc nghiệt nào đó đã ném họ vào đời, nhưng chính Tình Yêu của Chúa “gọi” họ vào cuộc sống và khi cho một con người sinh ra, Thiên Chúa có một ý định, một dự tính về người ấy, không phải như một kế hoạch áp đặt nhưng như một sứ mạng để hoàn thành trong tự do và trách nhiệm hầu cho con người được hạnh phúc và cuộc đời họ được thành tựu đích thực. Ta gọi sứ mạng đớ là một “ơn gọi”. Về mặt này, trường hợp của ông Gioan Tấy Giả là tiêu biểu vả rõ ràng.

Qua tưởng thuật của Kinh Thánh, chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa về Gioan đã được biểu lộ hiển nhiên ngay từ giây phút ông được thụ thai, rồi trong việc ông sinh ra, việc đặt tên cho ông, việc mẹ ông và mẹ Chúa Cứu Thế gặp nhau vv.. Trong các biến cố đó, ta thấy có sự can thiệp lạ lùng của Chúa vào trong cuộc đời của Gioan để định hướng cho nó. Điều đáng nói hơn là về phần ông, một khi đã khôn lớn và nhận ra sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó, Gioan Tẩy Giả không còn biết gì khác hơn là sống trọn vẹn cho sứ mạng đó một cách lô-gic, kiên quyết, trọn vẹn, cho tới cùng. Ông rút lui sớm vào hoang địa, sống khắc khổ xa lánh mọi mời mọc, níu kéo của trần gian là để được sống trọn vẹn hướng về Đấng Cứu thế mà ông phải làm kẻ “dọn đường”. Ông rao giảng bằng những lời lẽ thật nghiêm khắc, mạnh mẽ để lôi kéo người ta sám hối đổi đời vì thời gian không còn nhiều, Nước Thiên Chúa sắp tới. Sau khi thiên hạ đã rời ông để quay sang Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, ông âm thầm rút lui vào bóng tối vì đã hoàn thành nhiệm vụ “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”, ông tuyên bố như thế (Ga 3,30). Rồi cả cái chết của ông cũng là một phần không thể tách lìa của sứ mạng của một kẻ “dọn đường” và “làm chứng cho ánh sáng và sự thật”.

Gioan và Hêrôdê

Tôi thấy thánh Gioan Tẩy Giả Và vua Hêrôđê, kẻ đã ra lệnh chém đầu Người, là hai khuôn mặt hoàn toàn tương phản. Gioan là người mạnh mẽ, chí khí, còn Hêrôđê là người yếu đuối, do dự. Một đàng thì sống khắc khổ, giản án dị, còn đàng kia lại thích xa hoa, hưởng thụ. Hêrôđê đã bắt giam ông Gioan vì ông mạnh mẽ tố cáo nhà vua đã lấy vợ của anh mình. Thật ra vua cũng tỏ ra kính phục nhà tiên tri, biết ông là người công chính và thánh thiện, nhiều khi ông đã bênh vực Gioan. Nhưng ông là người thiếu ý chí, bị bao vây bởi đam mê, dục vọng. Và tuy là người cai trị khôn khéo nhưng ông lại bị các khuynh hướng xấu xa làm chủ mình. Thế nên ông đã bắt Gioan tống ngục, chắc hẳn là dưới sức ép của bà Hêrôđiađê, người chị dâu mà ông ta đoạt làm vợ. Rồi trong một bữa tiệc, ông đã hài lòng về điệu múa của cô con gái của bà đến độ đã hứa ban cho cô ta bất cứ điều gì cô xin. Một lời hứa bốc đồng. Đó không phải là tiếng nói của lý trí, của lương tâm mà là của cảm tính, của bản năng. Và thế là ông đã mắc mưu bà Hêrôđiađê rồi. Bà bảo con gái hãy xin cái đầu của Gioan. Đã lỡ hứa trước mặt các thực khách, nhà vua đành phải giữ lời, mặc dù trong thâm tâm không muốn giết con người công chính này.

Vua Hêrôđê tiêu biểu cho những con người để cho phần thú tính nơi mình lấn lướt; mặc dù đôi khi lý trí và lương tâm vẫn còn lóe lên nơi họ, kêu gọi họ hãy vươn cao lên, nhưng không đủ sức kéo họ ra khỏi vũng bùn lầy bởi họ đã quen sống trong những sự thấp hèn. Đối diện với Hêrôđê, ông Gioan Tẩy Giả xuất hiện như một con người có lý tưởng, sống nhất quán vì lý tưởng đời mình; một con người của bổn phận; con người biết chiến đấu cương quyết chống lại những lôi cuốn của bản năng thấp hèn; con người của những đỉnh cao.

Thánh Gioan Tẩy Giả và chúng ta

Như Gioan, mỗi người chúng ta cũng có một sứ mạng, một ý định của Thiên Chúa về chúng ta. Nhưng làm sao biết được? Kinh Thánh và giáo lý của Hội Thánh cho ta biết rằng con người được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa”, “có khả năng hiểu biết là yêu mến Tạo Hóa” và “chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa”. Đó chính là mục đích của việc tạo dựng con người. Con người phát xuất từ Thiên Chúa, sẽ được trở về với Thiên Chúa. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (năm 1992) trích dẫn lời thánh nữ Catarina thành Sienna như sau: “Vì sao Ngài đã dựng nên con người với phẩm giá cao trọng như vậy? Với tình thương vô biên, Ngài đã nhìn ngắm thụ tạo nơi chính mình và say mê nó. Vì thương yêu, Ngài đã tạo ra nó; vì yêu thương, Ngài cho nó khả năng hưởng phúc vĩnh cữu, (sđd, số 6).

Đó là ý định chung của Thiên Chúa là ơn gọi chung của chúng ta. Mỗi người sẽ phải thế hiện ơn gọi đó cho nên mình tùy theo diễn tiến cụ thể đời mình, theo những điều kiện và hoàn cảnh sống thực tế, khi ra sức tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa trong lề luật của Người và lời dạy của Giáo hội, trong việc bổn phận của bậc sống mình, trong lương tâm ngay thăng, trong luật lệ chính đáng của xã hội, trong các biến cố…

Không phải tự nhiên và dễ dàng mà chúng ta có thể thực hiện ý định của Chúa đối với chúng ta. Trong mỗi người đều có hai khuynh hướng: một nâng ta lên cao, một kéo ta đi xuống. Chúng ta thường xuyên kinh nghiệm rằng hai khuynh hướng thiện ác đó đấu tranh kịch liệt với nhau ngay trong ta. Muốn chiến thắng, phải tỉnh thức và cầu nguyện, phải tập nghe theo tiếng nói của lý trí, của lẽ phải và lương tâm, trong việc lớn cũng như việc nhỏ; đồng thời cũng phải tập sống khổ chế, nghĩa là sông có kỷ luật, biết hy sinh và từ bỏ. Làm sao có thể có một đời sống tinh thần phong phú nếu lúc nào cũng tìm kiếm và chiều theo những sự dễ dãi, thoái mái, nêu lúc nào cũng chạy theo vui thú vật chất và xác thịt?

Ít năm sau chiến tranh, tôi có dịp đi thăm một anh em tu sĩ chúng tôi ở Xuyên Mộc. Ngài phụ trách một giáo xứ khoảng 4.000 giáo dân và ba địa điểm cách giáo xứ từ 7 đến 20 cây số với số giáo dân khoảng 6.000 người nữa. Tôi đã đi thăm hai địa điểm lớn ở xa. Đó. là hai làng kinh tế mới. Tôi thấy giáo dân thật sốt sắng, đầy can đảm trong công việc làm ăn cũng như trong việc đạo. Đặc biệt tôi gặp một gia đình Dòng Ba Phanxicô gốc ở Phú Nhuận. Khi tôi đến, ông đang dạy giáo lý hôn nhân cho một chị độ 25 tuổi. Ông bà cho biết: họ có mấy người con trai, trong đó có đứa nghiện xì ke đã làm cho họ rất khổ tâm. Để tránh cho mấy đứa khác khỏi bị lôi kéo vào con đường hư hỏng đó, hai ông bà đã quyết định đưa cả gia đình tới đây sinh sống từ 1980. Bây giờ họ sống nghèo nhưng vui và bình an. Tinh thần đơn sơ, nghèo khó, vui tươi và phó thác của Dòng Ba đã giúp họ can đảm sống cuộc đời thiếu thốn vì lợi ích của con cái. Họ nói tuy họ không giàu có nhưng con cái họ không hư hỏng.

Theo “ơn gọi” và hoàn cảnh riêng của mình, hai người công giáo này đáng cho ta khâm phục không kém Gioan Tẩy Giả, và chắc chắn là gần gũi và dễ noi gương hơn noi gương vị Tiền Hô.

GIOAN TIỀN HÔ

Thế nào là một người cao trọng? Để đánh giá sự cao trọng của bản thân, chúng ta thường có ba cách :

Cách thứ nhất là bằng cặp mắt của mình

Nghĩa là dựa trên những suy nghĩ và nhận định của chính con người chúng ta. Cách thức này thường không mấy xác thực, bởi vì cái nhìn của chúng ta thường chủ quan, chúng ta thường đưa ra 1001 lý do để biện minh cho những sai lỗi của chúng ta. Chúng ta thường rộng rãi với bản thân mà lại nghiêm khắc với những người chung quanh, vì tự thẳm sâu cõi lòng, ai trong chúng ta cũng có một chút khuynh hướng kiêu căng, muốn được ca tụng, muốn được để ý tới. Đánh giá bản thân bằng chính cặp mắt của mình là cân đo bằng một loại thước bị thiếu hụt, không chính xác…

Cách thứ hai là bằng cặp mắt của người khác

Nghĩa là dựa trên dư luận, dựa trên những phán đoán của những người chung quanh. Cách thức này cũng thường không đem đến sự thật, vì dư luận là dư luận. Cùng một sự kiện mà mỗi người nhìn một cách thức tùy theo cảm tình của mình:

– Yêu nên tốt, ghét nên xấu.

Chính vì thế mà dư luận thường thổi phồng và bóp méo, không mấy khi được thống nhất:

– Yêu nhau cau bảy bổ ba,

Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.

Cách thứ ba là bằng cách nhìn của Chúa

Đây mới là một cách thức vừa cần thiết vừa trung thực nhất. Vậy thì ai là người cao trọng dưới mắt Chúa. Tôi xin thưa, đó là người khiêm nhường không chút kiêu căng.

Sự khiêm nhường ấy được biểu lộ trước hết là trong tư tưởng, nhận đúng thân phận của mình chỉ là tôi tá của Chúa. Đây cũng là điều chúng ta phải lưu ý bởi vì nhiều khi sự khiêm nhường của chúng ta chỉ là một thứ khiêm nhường giả hiệu, che lấp thói kiêu căng của chúng ta.

Tiếp đến là biểu lộ qua lời nói. Không đề cao bản thân, bởi vì chúng ta chỉ là dụng cụ trong bàn tay Thiên Chúa, sở dĩ chúng ta làm được việc nọ việc kia, tất cả đều do ơn lành của Chúa.

Sau cùng, biểu lộ qua việc làm. Sẵn sàng chấp nhận những hy sinh gian khổ, những địa vị thấp kém, miễn sao phục vụ Chúa và anh em. Khiêm nhường như thế chính là mẹ của các nhân đức, chính là cội nguồn thánh thiện.

Với những tiêu chuẩn kể trên thánh Gioan Baotixita quả thực là một người khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa. Mặc dù không làm được việc chi vĩ đại, nhưng Gioan đã được Chúa Giêsu khen tặng:

– Trong số những người nam không có ai cao trọng hơn Gioan.

Sở dĩ như vậy là vì Gioan đã sống tâm tình khiêm nhường. Mặc dù được mọi người ngưỡng mộ, ông đã hạ mình xuống và nói:

– Tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Đấng Cứu Thế.

Ông đã làm mọi việc để cho Chúa được nhận biết và tôn vinh. Ông đã để cho các môn đệ thân yêu bước theo Chúa Giêsu và đã giới thiệu Chúa Giêsu cho đám đông:

– Đây Chiên Thiên Chúa, đây đấng gánh tội trần gian. Ngài cần phải lớn lên còn tôi phải nhỏ đi.

Thân phận của ông chỉ là thân phận của một tiếng kêu trong sa mạc. Gioan càng khiêm nhường thì lại càng được Chúa mến yêu như lời Mẹ Maria đã nói:

– Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng và nâng cao mọi người phận nhỏ.

SINH NHẬT GIOAN

Mọi người ngạc nhiên và sợ hãi mà nói: Em nhỏ này rồi sẽ ra sao, vì bàn tay Thiên Chúa ở cùng em.

Bàn tay Thiên Chúa ở cùng Gioan, nghĩa là Thiên Chúa đã ban nhiều đặc ân cho Gioan:

– Đặc ân thứ nhất, là Thiên Chúa cho Gioan sinh ra bởi một người bà già, bà Elisabét, mà bà già này lại mắc bệnh từ tuổi thanh xuân, đến nỗi chính ông Giacaria cũng không thể tin được là bà Elisabét sẽ sinh con, nên ông đã bị Thiên Chúa phạt cho mắc bệnh câm.

– Đặc ân thứ hai: là chính Thiên Chúa đã đặt tên cho Gioan, mà thiên thần Gabriel đã phán với ông Giacaria tại bàn thờ dâng hương trong đền thánh Giêrusalem. Nhưng họ hàng lại nói với bà Elisabét rằng: trong họ, có ai tên như thế đâu?

– Đặc ân thứ ba: đến khi Gioan sinh ra, đã được khỏi tội tổ tông ba tháng rồi. Vì thánh Ambrôsiô giám mục thành Milan đã nói: các thánh khác chỉ được mừng lễ, sau khi đã lập nhiều công phúc ở thế gian mà về trời. Còn thánh Gioan lại được mừng lễ sinh nhật như Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria.

Vậy khi ban những đặc ân trên, Thiên Chúa cũng đòi Gioan phải đến đáp bằng cách chu toàn những nhiệm vụ Chúa đã trao phó.

  1. Nhiệm vụ thứ nhất là tiền hô, là người đi trước, loan báo cho dân chúng biết Chúa Cứu Thế sắp đến. Mà thực thế mùa thu năm 27 sau kỷ nguyên, trong miền rừng núi Nam phần nước Do thái, thấy xuất hiện một thày tu hành đi truyền đạo, sống đời khắc khổ, mình khoác áo choàng rộng, bằng lông lạc đà, lưng thắt dây da, lương thực là châu chấu nướng, chấm với mật rừng, tức là nhựa cây thủy ty liễu, mọc ở bờ sông Giodanô, nên hội đồng cộng tọa của người Do thái đã cử mấy thày tư tế đến hỏi: ông có phải là đấng Kitô không?

Thầy tu hành Gioan trả lời: tôi không phải là đấng Kitô, nhưng tôi chỉ là tiếng kêu trên rừng, có sứ mạng dọn đường cho Chúa cứu thế đến. Rồi hôm sau, thấy Chúa Giêsu đến với mình, Gioan liền nói: đây là đấng cất tội thiên hạ, người này là con Thiên Chúa (Gioan 1,34). Nghe thế, có hai môn đệ bỏ thày mà theo Chúa Giêsu. Đó là Anrê và Gioan

Hôm nay mừng kính sinh nhật thánh Gioan, Chúa cũng muốn ta trở nên tiền hô cho Chúa: rao giảng Chúa Giêsu cho người khác, đem Chúa Giêsu cho người khác, và đem người khác đến với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là mục đích đời ta, Chúa Giêsu cũng là mục đích của người khác. Còn tôi chỉ là người môi giới, là phương tiện Chúa dùng, để đem người khác đến với Chúa chứ không phải đem người ta đến với tôi mà quên Chúa, cũng không phải đem người ta đến với tôi mà xa Chúa.

  1. Nhiệm vụ thứ hai Chúa cậy nhờ Gioan Tẩy giả làm phép rửa cho Chúa. Vậy theo Tin mừng thánh Luca (3,1-18) Gioan có sứ mạng mạng dọn đàng cho Chúa cứu thế đến: là bạt đồi núi xuống, lấp thung lũng đầy, uốn thẳng đường quanh co, nghĩa là Gioan dạy người ta ăn năn hối cải và làm việc đạo đức bác ái,

Với những người biệt phái giả hình gian dối, thánh Gioan gọi họ là loài rắn độc, bò quanh co, không thể thoát cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Với những người có lòng ngay, Gioan khuyên họ phải giàu lòng thương xót, dùng việc bố thí tiền của mà rửa sạch tội lỗi.

  • Với bọn thâu thuế, Gioan bảo họ không cần phải đổi nghề, mà chỉ cần giữ đức công bình, đừng hối lộ, đòi lỡi ngãi, không được phù thu lạm hỗ.
  • Với quân nhân, Gioan kêu họ đừng hà hiếp bóc lột ai, đừng dọa nạt ai, nhưng phải bằng lòng về số lương của mình.
  • Với tất cả mọi người, Gioan khuyên họ chiụ phép rửa tỏ lòng khiêm tốn ăn năn để được ơn tha thứ, được thấy ơn cứu độ.

Bởi thế, khi thấy Gioan làm phép rửa, những người biệt phái đã đến hỏi: Nếu không phải là đức Kitô, tại sao ông lại làm phép rửa? Thày tu hành Gioan trả lời: “Tôi rửa người ta bằng nước, song có một đấng ở giữa các ông, mà các ông không biết. Đấng ấy sẽ rửa các ông bằng nước và Chúa Thánh Thần.

Hôm nay, mừng lễ sinh nhật thánh Gioan, Thiên Chúa cũng muốn tôi trở nên những tẩy giả. Vậy những người đến với tôi, tôi có làm cho họ trở nên trong sạch hơn không? Tôi có làm cho họ tới gần Chúa hơn không? Hay tôi lại làm cho họ dơ bẩn hơn, mà không đáng đến gần Chúa.

  1. Nhiệm vụ thứ ba, Chúa cậy nhờ Gioan là làm cho mình nhỏ bé lại, để cho Chúa lớn cao hơn. Thánh Gioan thực hiện khi Gioan nói: tôi cần phải nhỏ đi, mà Chúa cần phải lớn lên. Nghĩa là Gioan phải bỏ mình, phải chịu thiệt thòi, để Chúa được vinh danh hơn. Gioan đã vui lòng mất hai môn đệ, để Anrê và Gioan theo Chúa.

Thánh Augustinô tiến sĩ, giám mục giáo phận Hippon còn thể tư tưởng này: Gioan phải thấp bé đi, là vui lòng chịu Herođê chặt đầu, để bắt chước Chúa Giêsu được lớn lên, là bị treo trên thánh giá. Còn tôi, tôi có sẵn sàng chịu nhục mạ để Chúa được vinh danh không? Tôi có sẵn sàng chịu tử đạo thiêng liêng bằng thiếu thốn về thể xác, bị hiểu lầm về phương diện tinh thần, để bắt chước Chúa đã được lớn lên bằng treo trên thập giá không?

Kết

Em nhỏ này sẽ ra thế nào, vì có bàn tay Thiên Chúa ở với nó. Lạy Chúa bàn tay Chúa đã ban đặc ân cho thánh Gioan tiền hô, thì bàn tay Chúa cũng đã nâng đỡ đời sống hy sinh của Gioan. Xin bàn tay Chúa cũng nâng đỡ chúng con như thế, vì xác thịt chúng con yếu đuối nặng nề.

CHỨNG NHÂN CỦA CÕI VĨNH HẰNG  – ĐGM. Bùi Tuần

Khi nhìn thánh Gioan Baotixita, tôi thấy vẻ bề ngoài của Ngài không có gi hấp dẫn cả. Y phục thì khó nghèo. Ăn uống thi khổ cực. Cách sống thi khắc khổ. Cho ở thì thô sơ. Lúc thì ở rừng rú, lúc thì ở sa mạc, nay đây mai đó.

Thế mà, con người như vậy lại được Phúc Âm gọi là đấng dọn đường cho Chúa, là đấng làm phép rửa cho Đức Kitô, là đấng giới thiệu Chúa Cứu thế, là đấng trọng hơn mọi người nam trên thế gian này.

Điều đó chứng tỏ nhưng vẻ đẹp bề ngoài chưa hẳn là thước đo giá trị con người. Thước đo giá trị con người chính là cái đẹp bên trong, cái đẹp nội tâm, cái đẹp phản ánh nhưng chân thiện mỹ vĩnh hằng.

Riêng đối với tôi, thánh Gioan Baotixita lôi cuốn tôi do mấy điểm sau đây của Ngài.

Điểm thu hút thứ nhất là nếp sống tu thân. Việc tu thân của Ngài không phải chỉ là từ bỏ đời sống sung túc, dễ chịu, để chọn cuộc đời nghèo khó, khắc khổ. Nhưng nhất là ở chỗ Ngài rất khiêm nhường. Ngài ví mình như tiếng kêu trong sa mạc. Ngài coi mình chỉ là kẻ dọn đường cho Chúa. Ngài nhận mình hèn mọn thấp kém, đến nỗi không đáng cởi dây giày cho Đấng Cứu thế. Ngài mong muốn bước xuống thực thấp thực sâu, để Đấng Cứu thế được nổi lên thực cao, sao cho mọi người biết đến mà tôn kính tôn thờ.

Nếp sống tu thân của thánh Gioan Baotixita rất xa lạ với lối tu thân nơi một lớp người tôn giáo thời đó và thời nay. Họ tu thân, mà vẫn lo tìm thăng tiến địa vịi, hưởng thụ quyền lợi, lạm dụng chức tước.

Khi phong hoá bị suy đồi, tôn giáo bị tha hoá, nhân tố có sức cải cách sẽ phải là người tu thân đích thực ở trình độ cao. Thánh Gioan Baotixita được đào tạo suốt mấy chục năm tu thân trong sa mạc. Với nét tu thân dày dạn đó, Ngài vào đời với đầy ơn Chúa Thánh Thần và một uy tín rất lớn. Chính nét tu thân đầy uy tín đó đã lôi cuốn những người thiện chí, để họ sẵn sàng nghe lời Ngài giảng. Đề tài giảng của Ngài là rất đơn sơ, nhưng rất căn bản. Đó cũng chính là một sức thu hút rất mạnh.

Vì thế, đối với tôi,

Điểm thu hút thứ hai là đề tài giảng của Ngài.

Đề tài giảng của Gioan Baotixita được tóm lại trong một lời thôi. “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 3,2). Có sám hối, thì mới tránh được cơn thịnh nộ của Chúa (Mt 3,7). Có sám hối thì công việc ta làm mới sinh được kết quả tốt (Mt 3,8). Sám hối là một cách rửa tâm hồn cho sạch, để nên người tốt, để nên con Chúa, và để đón nhận Nước Trời đang tới. Nước Trời chính là Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại.

Khi thấy Chúa Giêsu đang tiến lại về phía mình, thánh Gioan Baotixita nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, là Đấng xoá tội trần gian… Tôi đã thấy Thánh Thần từ trời xuống ngự trên Ngài… Ngài là Đấng mà Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,29-34).
Một điều đáng chú ý, là khi Đức Kitô đã xuất hiện công khai, thì thánh Gioan Baotixita tìm cách lui vào bóng tối. Ngài muốn dồn hết danh dự cho Đấng Cứu thế. Ngài như muốn mọi người quên Ngài đi, để tập trung vào một Đức Giêsu Kitô thôi.

Tôi thấy sám hối và tập trung vào Đức Kitô là đề tài giảng rất cần thiết, để cải cách tôn giáo thời đó. Thời nay thiết tưởng cũng rất cần đề tài như vậy. Nhất là khi lương tâm nhiều người đang mất dần ý thức về tội, và khi Công giáo nhiều nơi đang đặt trọng tâm vào quá nhiều thứ cứu độ, còn chính Đức Kitô, Đấng cứu độ duy nhất, thì bị lu mờ. Các thứ trung gian thi nhau che khuất Ngài. Sự kiện đáng buồn đó là một tiếng báo động. Chúng ta nên thức tỉnh trở về với gương thánh Gioan Baotixita.

Điểm thu hút sau cùng nơi thánh Gioan Baotixita là sự vững vàng phó thác trong những thử thách.

Thánh Gioan Baotixita đã gặp nhiều thử thách nặng nề, nhất là về mặt đức tin. Phúc Âm thánh Matthêu kể rằng: “Khi Gioan đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Mt 11,2-3). Chi tiết trên đây cho ta thấy: Có thể Gioan Baotixita bị cám dỗ về con người của Đức Kitô cũng như về sứ mạng của chính Gioan. Sứ mạng của mình là giới thiệu Đấng Cứu thế. Mình đã giới thiệu Đấng đó. Nhưng Đấng đó có thực sự là Đấng Cứu thế không đây? Cơn cám dỗ như vậy có thể xảy ra cho Gioan. Trong cảnh tù cô đơn, cơn cám dỗ đó làm Gioan ray rứt, đắng cay. Nếu mình sai, thì mình sẽ bị coi như giả dối và vô dụng.

Nhưng Gioan đã vững vàng phó thác vào Chúa. Phó thác bằng cách sai môn đệ đến hỏi Đức Kitô. Phó thác bằng cách chấp nhận câu trả lời của Đức Kitô. Phó thác bằng cách vui lòng chết trong tù, mà không xin Đức Kitô làm phép lạ cứu Ngài ra khỏi cảnh bất công đó, để tiếp tục ra đi dọn đường phục vụ Đấng Cứu thế. Ngài dâng mình làm của lễ cho chính tình yêu.

Với ba nét thu hút trên đây, thánh Gioan Baotixita là chứng nhân của cõi vĩnh hằng. Ngài nhìn về phía trước. Ngài sống cho phía trước. Phía trước có cõi đời đời. Trong cõi đời đời đó có Thiên Chúa hằng sống đang chờ đợi các con cái Người. Con cái Người sẽ đến được với Người nhờ tu thân, nhờ sám hối, nhờ tin cậy Đức Kitô, nhờ vững vàng vượt qua thử thách. Chúa muốn mỗi người chúng ta hãy là chứng nhân như thánh Gioan Baotixita, tại Việt Nam này, ở địa phương này, trong hoàn cảnh hiện nay. Chúng ta rất yếu đuối, nhưng chính trong sự yếu đuối đầy khiêm nhường và tin cậy, Chúa sẽ tỏ sức mạnh của Người.

Xin thánh Gioan Baotixita cầu bầu cho chúng ta.

LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

Gioan Tẩy giả là ai?

Ngài là con của thày tư tế Dacaria và bà Êlisabét, chị họ của Đức Maria. Hai ông bà đã lớn tuổi nhưng vẫn chưa có con. Cả hai không ngừng cầu khẩn xin Chúa ban cho một người con nối dõi tông đường. Nhận thấy lòng đạo đức của họ, Chúa dủ lòng thương sai sứ thần đến báo: “Này Dacaria ! đừng sợ, Chúa đã nghe lời khẩn nguyện của ngươi. Vợ người sẽ sinh một con trai và người sẽ đặt tên là Gioan . . .”

Dacaria hoài nghi, vì thế Chúa để ông bị câm trong suốt 9 tháng trời, cho đến ngày đặt tên cho Gioan. Gioan lớn lên và được giáo dục trong bầu không khí đạo đức. Đến năm thứ 5 đời hoàng đế Tibêriô, tức năm 28 sau công nguyên, có tiếng Chúa gọi Gioan trong hoang địa, tức vùng đồi núi Giuđê Gioan sống khắc khổ: ăn châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo lông lạc đà và ngang lưng thất dây da. Cuộc đời Gioan thật gương mẫu.

Có lần Chúa Giêsu đã công khai nói với dân Do thái: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy giả”.

Gioan đã làm gì?

Ngài đi khắp vùng sông Giođan rao giảng và kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. Lời nói và nếp sống khổ hạnh của ngài đã lay chuyển cả những tâm hồn cứng cỏi nhất. Họ đã đến với ngài thật đông đảo để được nghe giảng dạy và được nhận phép rửa. Có người đã lầm tưởng ngài là Đấng Thiên Sai mà dân Do thái hằng mong đợi, nhưng ngài khiêm tốn trả lời: “Phần tôi, tôi rửa anh em bằng nước, sẽ có một Đấng quyền thế hơn tôi, tôi không đáng cởi dây giầy cho Ngài. Ngài sẽ rửa anh em bằng Thánh Thần và lửa.

Thánh Gioan đã chết thế nào?

Trong khi ngài dang rao giảng sám hối thì một vụ tai liếng đã xảy ra tại cung điện Hêrôdê Antipa. Nhà vua đã cưới con gái của Arêta phương nam làm hoàng hậu. Thế nhưng, trong một chuyến đi Rôma, ghé thăm người em cùng cha khác mẹ là Hê-rô-đê Phi-lip-phê, nhà vua lại say mê sắc đẹp của Hêrôdia, người em dâu và tìm cách chiếm đoạt. Hêrôđia có một người con riêng là Salômê có tài múa hát. Câu chuyện tới tai vị Tẩy giả. Với tất cả lòng cương nghị của một người công chính, Gioan cảnh cáo Hêrôđê: “Nhà vua không được cướp vợ em mình” Câu nói đó đã khiến Hêrôđê phải giam Gioan vào ngục. Nhưng Hêrôđia vẫn chưa hài lòng, vì Gioan luôn là mối cản trở cho hành động ngang trái của bà. Bà lìm cách đế giết Gioan. Chính vì thế, trong bữa tiệc sinh nhật của Hêrôđê, lợi dụng khi nhà vua đã ngà ngà say, bà xúi Salômê xin chiếc đầu của Gioan.

Thế là Gioan đã phải chết.

Câu hỏi chia sẻ:
• Anh chị em nghĩ gì về câu tin Mừng: “Cậu bé (Gioan) càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh?”
• Số phận của Gioan là số phận của các ngôn sứ, vì giảng dạy điều ngay chính mà phải chịu thiệt đến thân. Nhưng “Phúc cho ai phải chịu đau khổ vì sự công chính. Xin chia sẻ.

NGÀI PHẢI LỚN LÊN

Hẳn rằng nhiều người trong chúng ta đã được nghe câu chuyện ngụ ngôn của Lafontiane về con ếch và con bò. Câu chuyện ngụ ngôn ấy đại khái như thế này:

Ngày kia con ếch nhìn thấy một con bò thật to lớn và vĩ đại, thật cực kỳ và hết ý. Thế là con ếch liền mong sao cho mình cũng được to lớn và vĩ đại, cực kỳ và hết ý như vậy.

Từ tư tưởng biến thành hành động, từ ước muốn đi tới việc làm, con ếch bắt đầu uống nước cho bụng mình được phình to. Cứ thế, cứ thế, nó uống mãi uống hoài, nhưng vẫn chưa to được bằng con bò. Nó lại tiếp tục uống. Và rồi một tiếng nổ vang lên. Bụng nó vỡ tan thành từng mảnh nhỏ.

Câu chuyện trên cho chúng ta thấy tự thẳm sâu cõi lòng, ai cũng muốn được người khác để ý tới và lên tiếng ca tụng. Ai cũng muốn nâng mình lên chứ chẳng ai lại thích hạ mình xuống. Ai cũng ươm mơ giấc mộng của Adong Evà, đó là được trở nên bằng Thiên Chúa.

Có một câu danh ngôn đã xác quyết như sau:

– Tham vọng của các nhà chính trị là được để lại một vài dòng về mình trong lịch sử.

Nếu so sánh với Gioan Tiền hô, chúng ta thấy thái độ của chúng ta hoàn toàn trái ngược với thái độ của thánh nhân, bởi vì lập trường của thánh nhân đó là: Ngài cần phải lớn lên còn mình phải nhỏ đi.

Trong khi đó, chúng ta lại dồn mọi nỗi lực, mọi cố gắng vào việc làm cho bản thân mình được to lớn, được vĩ đại, được cực kỳ, được hết ý, còn Thiên Chúa thì bị nhỏ đi, bị cho ra rìa và bị đứng bên lề cuộc đời của chúng ta.

Thánh Gioan Tiền hô đã nói và đã làm. Trước hết, để Thiên Chúa được lớn lên trong tâm hồn mình, thì như Tin mừng đã ghi lại: ngay từ thời niên thiếu, thánh nhân đã vào trong hoang địa, sống một cuộc sống khắc khổ, ăn châu chấu với mật ong rừng, để có đủ thời gian và thinh lặng cần thiết hầu kiết hiệp với Thiên Chúa.

Một khi đã có Thiên Chúa ở trong lòng, thánh nhân còn đem Ngài đến cho người khác và muốn cho Ngài cũng được lớn lên trong tâm hồn của họ.

Chính vì thế, thánh nhân đã xuất hiện bên bờ sông Giócđan, rao giảng việc sám hối ăn năn, chỉ bảo cho dân chúng biết những sai lỗi và khuyết điểm của họ, để họ cố gắng uốn nắn sửa đổi, nhờ đó cởi bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới, cũng như nhờ đó dọn đường đón mừng Đấng Cứu Thế.

Và khi Đức Kitô đi ngang qua, thánh nhân đã long trọng giới thiệu Ngài cho đám đông:

– Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian.

Mặc dù đã qui tụ được nhiều môn đệ và đông đảo dân chúng, thánh nhân cũng đã sẵn sàng để cho họ bước theo Đức Kitô, không hề ngăn cản, không hề buồn phiền, không hề tức tối.

Và khi Đức Kitô bắt đầu rao giảng Tin mừng, thì vai trò của thánh nhân thực sự nhỏ đi, bản thân của thánh nhân thực sự chìm vào kiếp sống tù dày và tăm tối, để rồi cuối cùng đã kết thúc bằng một cái chết đau đớn.

Còn chúng ta thì sao?

– Là người Kitô hữu, chúng ta có bổn phận phải có Chúa trong tâm hồn và phải mang Chúa đến cho người khác.

– Là người Kitô hữu, chúng ta phải trở nên những tiền hô, dọn đường Chúa đến trong cuộc đời mình, cũng như trong cuộc đời người khác.

Vì thế, mỗi người chúng ta hãy hồi tâm xét mình, hãy tự vấn lương tâm xem chúng ta đã làm được những gì để Đức Kitô thực sự lớn lên trong tâm hồn chúng ta cũng như thực sự lớn lên trong tâm hồn những người chung quanh?

GIOAN TIỀN HÔ: TÊN GỌI

Mỗi người sinh ra, đều được cha mẹ đặt cho một tên gọi. Trong Kinh Thánh, tên gọi các nhân vật lớn thường rất giàu ý nghĩa, tên gọi ấy có khi phản ánh tình trạng của tập thể gia đình, hoặc phản ánh tình trạng của chính cá nhân đương sự, hoặc nói lên số phận hay hoạt động của người mang tên. Thế nên, cùng với tên gọi là hàm ý một dự phóng cho tương lại, có khi chỉ một ước vọng, đôi khi gợi lên tình cảm lúc sinh ra hoặc tương lai mà cha mẹ thấy được, và thường khi là cả một sứ mạng, sứ mạng đó nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa muốn thực hiện giữa dân Người. Trường hợp của Gioan Tẩy Giả là một ví dụ, khi sinh ra được cha mẹ đặt tên theo lời Sứ thần đã loan báo. Danh xưng Gioan có nghĩa là Thiên Chúa biểu lộ tình thương.

Mừng lễ sinh nhật Gioan Tẩy Giả hôm nay, cũng là dịp đi từ tên gọi ấy, để mỗi người nhận ra hướng đi của tình thương Thiên Chúa, tình thương ấy bước xuống đời sống nhân loại, để rồi một khi con người nhận ra tình thương của Đấng đã yêu thương mình.

  1. Tình thương Thiên Chúa bước xuống với con người. Nhìn vào lịch sử cứu độ, nhiều lần trong lịch sử, Thiên Chúa đã tỏ bày tình thương của Người qua những kỳ công sáng tạo hay những chiến tích lẫy lừng. Và hôm nay, Tin Mừng cho Chúng ta thấy tình thương ấy đã đi vào số phận đời thường của một con người để biến đổi họ nên dấu chỉ lạ thường cho ơn Cứu độ.

Tình thương ấy đã bước xuống nỗi sầu khổ của một gia đình, để biến nỗi tủi nhục ở đó trở thành niềm vui. Chính dấu ấn tình thương ấy đã biến đổi lòng dạ son sẻ của Elisabét thành tấm lòng hoan hỷ nhảy mừng của thai nhi ở tháng thứ sáu. Để rồi, cũng chính tình thương Thiên Chúa đã biến đổi gia đình Dacaria héo hon từ lâu, bổng trở nên rộn rã kẻ ra người vào với tiếng cười, lời chúc mừng ngày con trẻ cắt bì và đặt tên là Gioan, tên gọi ấy là dấu hiệu của tình thương Thiên Chúa.

Thế nhưng, tình thương Thiên Chúa không dừng lại, không chỉ bước xuống nơi gia đình Dacaria sầu khổ, mà còn đi xuống, xuống với một dân tộc và với toàn thể nhân loại. Có lẽ trong suốt thời gian câm lặng, ông Dacaria đã hiểu và khám phá ra được tình thương của Thiên Chúa muốn thực hiện nơi dân tộc của mình. Vì thế, khi người ta hỏi ông đặt tên cho con trẻ là gì, ông ra hiệu người ta mang bảng để ông viết, tên nó là Gioan. Khi ấy lưỡi ông mở ra và chúc tụng Thiên Chúa: “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Israel, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người”. Như thế, chính trong tên gọi Gioan, tên gọi tình thương, cho ta thấy Thiên Chúa đã bước xuống với dân tộc và với toàn thể nhân loại.

  1. Tình thương Thiên Chúa là sự sống con người. Thế nên, mừng ngày sinh nhật của Gioan Tẩy Giả hôm nay, không chỉ nhắc lại một khía cạnh quá khứ, mà còn là một lời mời gọi cho các thế hệ tương lai. Đây là dịp để mỗi Kitô hữu nhận ra mình đang sống trong tình thương của Thiên Chúa. Nhìn lại cuộc đời của mổi chúng ta, mỗi người từ khi hình thành dù mới ở dạng của một mầm sống, tất cả là ân huệ tình thương của Thiên Chúa.

Vả lại, trong ơn gọi làm người, mầm sống ấy có một vận mệnh, một sứ mạng dù không ai biết trước tương lai nó thế nào. Thế nhưng, nó cần được tôn trọng để sinh và sống trong những điều kiện phù hợp với phẩm giá con người. Do đó, bóp nghẹt một sự sống tự nhiên của một mầm sống đang hình thành là đi ngược lại với tình thương của Thiên Chúa.

Hơn thế nữa, trong đời sống làm con Thiên Chúa, qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được lãnh nhận sự sống siêu nhiên từ Thiên Chúa và cả sứ mạng mà Thiên Chúa trao ban cho mỗi người. Sự sống đó cần được bộc lộ ra trong cả cuộc đời; thế nên, sự sồng ấy cần phải được kính trọng và kiện toàn hơn nữa. Nếu ta từ chối, hay bóp nghẹt sự sống siêu nhiên là ta đi ngược lại tình thương của Thiên Chúa.

  1. Hãy vun trồng tình thương Thiên Chúa nơi gia đình. Mừng sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả hôm nay là dịp để mỗi người chúng ta nhận ra rằng tình thương Thiên Chúa là sự sống con người. Đồng thời trang Tin Mừng hôm nay còn cho thấy khung cảnh gia đình đầm ấm, nơi đó mọi tương quan được thể hiện cách tích cực. Tương quan vợ chồng là một tình yêu chung thủy của hai ông là Dacaria và Elisabét, dù nhiều năm son sẻ vẫn trung tín sắt son. Tương quan cha mẹ con cái là một tình yêu biết trách nhiệm, để rồi, từ nơi đây sẽ tỏa ra môi trường lân cận, xóm giềng. Nên ở đó lộ ra một thông điệp về đời sống gia đình.

Gia đình như chúng ta vẫn thường nói là chiếc nôi của sự sống và tình yêu, nơi đó con người được sinh ra và lớn lên. Gia đình là một cộng đoàn, nơi đó mọi phần tử yêu thương tận hiến cho nhau. Gia đình là một trường học, nơi đó nhân cách được phát triển tự nhiên và lành mạnh nhất. Gia đình là nền tảng của xã hội, là nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ, và gia đình tín hữu còn là một Giáo hội thu nhỏ, khi biết sống những giá trị Tin mừng, qua việc thường xuyên chu toàn những nhiệm vụ bổn phận bậc sống của mình.

Thế nên, tìm lại ý nghĩa đời sống gia đình, chúng ta hiểu rằng đó không chỉ là một định chế xây dựng xã hội loài người, mà còn là một cộng đoàn mang lấy ơn gọi trong sứ mạng vui trồng tình thương Thiên Chúa.

Nhận ra giá trị của sự sống và gia đình nhân ngày lễ sinh nhật Gioan Tẩy Giả hôm nay, cũng chính là lúc mỗi Kitô hữu nhận ra sứ mạng của chính mình trong tình thương của Thiên Chúa. Một sứ mạng bảo vệ và phát triển sự sống có trách nhiệm. Một sứ mạng biết thể hiện tình thươmg của Thiên Chúa bằng sự trung tín trong đời sống gia đình…Đồng thời xây dựng một tình thương huynh đệ trong khu phố, nơi công sở, để mọi người luôn nhận ra Thiên Chúa luôn yêu thương mình.

CHĂM CHỈ LÀM VIỆC ĐỂ TÔN VINH CHỦ MÌNH

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Trong ngôn ngữ phụng vụ, chữ sinh nhật có hai nghĩa trái ngược nhau. Dùng để nói về Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Gioan Tẩy giả, sinh nhật chỉ ngày các Ngài chào đời, tức là sinh ra ở trần gian. Còn khi nói về mọi thánh khác, sinh nhật lại là ngày các ngài ra khỏi đời này và sinh ra ở trên trời. Có sự phân biệt như vậy cũng là điều dễ hiểu. Vì có gì đáng mừng khi sinh ra trong tội lỗi; chính lúc chết đi cho thế gian mới là sinh ra cho sự sống muôn đời. Hết mọi thánh sinh ra ở đời đều mắc tội Ađam; nên ngày chào đời của các ngài không có gì đáng mừng. Ngược lại khi các ngài chết thánh thiện mới là lúc thật sự sinh ra cho hạnh phúc trường cửu và chúng ta phải vui mừng. Hội Thánh mừng ngày các ngài sinh ra ở thiên đàng chứ không tôn kính ngày các ngài sinh ra ở trần gian. Ngược lại, vì không dính bén nguyên tội hay vì được khỏi nguyên tội trước khi sinh ra, Chúa Giêsu, Đức Maria và thánh Gioan Tẩy giả là ba vị duy nhất được mừng ngày sinh ra ở đời, nên ngày đản sinh của các ngài là ngày đáng mừng vì nó tô đẹp cho thế giới và đem hân hoan cứu độ đến cho loài người. Nhất là khi chúng ta nghĩ đến vai trò đặc biệt của Chúa Giêsu, Đức Maria và thánh Gioan Tẩy giả trong mầu nhiệm cứu thế. Ngày các Ngài sinh ra đem hạnh phúc đến cho chúng ta nên chúng ta phải hân hoan.

Nhưng tại sao lại mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy giả vào ngày 24 tháng 6 này? Người ta có thể biết rõ ngày sinh tháng đẻ của người sao? Không phải như vậy! Ngày xửa ngày xưa mấy ai nhớ rõ được đúng ngày sinh của mình. Họa chăng một vài bậc quan vương nào đó sinh ra trong các đền vua đầy văn hào văn sĩ mới có người ngồi đó để ghi ngày sinh tháng đẻ. Chúa Giêsu, Đức Maria, thánh Gioan đều là dân nghèo về mặt xã hội làm sao có thể để lại ngày sinh rõ ràng. Chính việc các ngài đản sinh mới quan trọng. Còn các ngài sinh ra ngày nào, giờ nào thì hậu thế liệu mà đặt ra theo một vài tiêu chuẩn nào đó.

Đối với Gioan Tẩy giả, người ta đã căn cứ vào một câu người nói để tính ra ngày sinh của người. Người đã nói về Đức Giêsu rằng: “Ngài phải tiến lên; còn tôi phải suy đi”. Vậy lúc Đức Giêsu tiến lên phải là lúc Gioan lui xuống. Đức Giêsu đã sinh ra ngày 25 tháng 12 là ngày Đông chí, ngày mặt trời bắt đầu tiến lên trong quỹ đạo của nó, thì tốt nhất nên đặt ngày sinh của Gioan vào ngày mặt trời bắt đầu đi xuống. Và đó là ngày 24 tháng 6, tức là nửa năm trước ngày Đông chí. Và hợp với lời sứ thần loan báo, bà Ysave thụ thai trước Đức Maria sáu tháng.

Những điều trên đây một đàng cho chúng ta thấy địa vị đặc biệt của Gioan Tẩy giả trong hàng ngũ các thánh. Nói đúng hơn người ở ngoài hàng ngũ này vì chỉ mình người khi sinh ra đã được khỏi tội Ađam (chỉ có Đức Giêsu và Đức Maria không mắc tội đó). Và đàng khác chúng ta được thấy cuộc đời của người gắn liền với cuộc đời của Đức Giêsu.

Ba bài Kinh Thánh hôm nay dường như muốn nhắc lại ba giai đoạn chính trong cuộc sống của Gioan. Bài sách Isaia gợi lên ơn gọi tiền định của người. Bài Tin Mừng nhắc đến hôm người sinh ra. Và bài sách Công vụ nói lên hoạt động chính Người đã làm theo sứ mạng.

  1. Ơn gọi tiền định

Chúng ta đã biết truyện Gioan nên khi nghe đọc những câu: “Chúa đã gọi tôi từ dạ mẹ… Người đã nhắc đến tên tôi… Người nắn tôi từ dạ mẹ nên tôi tớ của Người…”, chúng ta thấy dường như Isaia đã báo trước về việc sứ thần loan tin cho Zacarya biết ông bà sẽ có con và phải đặt tên con trẻ là Gioan; và con trẻ ấy khi còn ở trong dạ mẹ đã được ơn Chúa viếng thăm qua lời chào của Đức Maria; và đã được khỏi tội Ađam cùng trở nên tiên tri của Chúa. Chính Zacarya trong ngày sinh nhật của hài nhi đã được tháo gỡ miệng lưỡi để có thể nói được, cũng đã chúc tụng Gioan là tiên tri của Đấng Tối cao để làm cho Yacob và Israel trở lại với Chúa và để trở nên ánh sáng cho các dân tộc. Tức là Zacarya cũng đã lấy lại nhiều lời trong bài sách Isaia hôm nay để nói về Gioan.

Tuy nhiên chúng ta vẫn không được coi lời sấm của Isaia đã nhằm nói đến Gioan. Người ta có thể áp dụng những lời đó vào Gioan; nhưng Gioan không phải là đối tượng của những lời ấy. Và việc tìm hiểu ý nghĩa đích thực của những lời này còn làm tăng giá trị Gioan hơn nữa.

Thật vậy, đoạn tiên tri hôm nay nằm trong Isaia II (gồm các chương 40-55), là những lời của Chúa nói với Israel và nói về Israel Dân Chúa lúc được đưa ra khỏi cảnh lưu đày Babylon (năm 538). Chúa phán: mặc dầu Israel thất tín, Chúa vẫn trung thành với lời hứa. Người sẽ gửi đến một người Tôi tớ. Đoạn sách hôm nay nói đến ơn gọi của Người Tôi tớ đó. Nó là một trong bốn đoạn Isaia mà người ta quen gọi là bốn khúc ca về Người Tôi tớ. Và chúng ta biết chẳng ai trong lịch sử đã thể hiện những lời sấm về Người Tôi tớ này bằng chính Đức Giêsu Cứu thế. Chính Người sẽ là Người Tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa đến hy sinh cứu độ Dân Người. Do đó, lời sách Isaia hôm nay chủ yếu muốn nói về Đức Giêsu Kitô. Chỉ có Người mới thật là Vị Tiên tri của Đấng Tối cao sẽ làm cho Israel quay đầu về với Thiên Chúa; và Người sẽ là ánh sáng đích thực cho các dân tộc.

Nhưng Người đã được tất cả Cựu Ước chuẩn bị. Thành ra Người Tôi tớ đích thực cũng đã được nhiều người tôi tớ đi trước loan báo. Gioan là tiền hô của Đức Giêsu Kitô Cứu thế.

Người đáng được áp dụng những sấm ngôn kia. Và chúng ta đã thấy việc áp dụng này rất may mắn vì lời sách Isaia hôm nay quả thực có thể gợi lên nhiều sự kiện trong cuộc đời của Gioan: từ việc người được chọn từ trong lòng mẹ, đến việc được kêu tên từ ngày ấy và việc được chỉ định làm tiên tri.

Tuy nhiên, chính Isaia cũng đã không “dựng đứng” lên một hình ảnh về Người Tôi tớ từ hư vô, tức là không dựa vào các yếu tố đã có sẵn. Không, có thể nói ông đã dùng tất cả phần sách Cựu Ước có trước ông để xây dựng hình ảnh Người Tôi tớ này. Ông dùng những Lời Chúa nói về Israel và Yêrusalem tản mác trong tất cả các sách Cựu Ước để vẽ ra khuôn mặt Người Tôi tớ. Bởi vì Người Tôi tớ đầu tiên của Thiên Chúa chính là Israel Dân Người. Người đã gọi Israel từ trong dạ mẹ, đã đặt tên cho nó, đã săn sóc nó như mũi tên quý báu mà người chiến sĩ cẩn thận giữ gìn trong bao. Người dùng Israel để tỏ hiện vinh quang của Người. Người nhờ thánh điện Yêrusalem để quy tụ nhà Yacob. Người tỏa sáng vinh quang trên Dân Người để nó trở thành ánh sáng cho các dân tộc. Nói đúng ra, khi viết đoạn sách hôm nay, “Isaia” chỉ muốn nói đến Yêrusalem và Israel sắp được cứu độ để ra khỏi cảnh lưu đày, vì ơn gọi tiền định, để rồi nó sẽ chiếu tỏa ơn cứu độ của Chúa cho muôn dân. Có như vậy chúng ta mới hiểu được câu 4 ám chỉ đến thân phận lưu đày kiệt quệ… Và có như vậy chúng ta mới dễ được an ủi: bởi vì điều đã viết về Dân Chúa nói chung cũng có thể hiểu được về từng người con Chúa nói riêng, cho dù điều đó chỉ thể hiện hoàn toàn nơi Đức Giêsu Cứu thế là Dân Chúa đích thực và là Con Một Thiên Chúa. Và dĩ nhiên điều ấy áp dụng cho các thánh nhân sẽ đúng hơn khi áp dụng cho chúng ta. Nhưng chúng ta không được coi mình như đứng ở ngoài. Những lời nói về ơn gọi tiền định của Gioan cũng phải được hiểu về chúng ta để chúng ta tham dự hơn vào sự vui mừng trong ngày người đản sinh hôm nay.

  1. Sinh Nhật Gioan

Tin Mừng theo thánh Luca viết rằng hôm Gioan chào đời, bà con láng giềng đã đến chung vui với ông bà Zacarya. Cả hai người đã già mà nay có con lại không đáng mừng sao? Lẽ ra chính hôm ấy người ta phải đặt tên ngay cho con trẻ (Kn 4,1; 21,3…). Nhưng từ thời sau Lưu đày, người ta bắt chước phong tục Hylạp để việc đó lại sau. Và như vậy cũng tôn vinh ngày làm lễ cắt bì hơn, cử hành 8 ngày sau sinh nhật.

Đó là ngày đánh dấu việc con trẻ từ nay thuộc Dân Chúa. Bạn hữu thân thích đến đông hơn. Người ta muốn gọi con trẻ bằng tên của cha nó để tôn trọng ông. Vì theo tục lệ, lẽ ra phải lấy tên của ông nội mà đặt cho đứa bé. Nhưng Zacarya cũng đã “lão rồi”; và nay ông mới có con; nên để ông vui, người ta muốn gọi đứa bé là Zacarya. Thế nhưng mẹ nó không chịu. Người ta nói thế nào bà cũng không nghe. Người ta phải nại đến cha nó. Nhưng ông lại câm. Phải lấy bút giấy cho ông. Ông viết: hãy đặt tên nó là Gioan. Thật là lạ lùng! Không ai bảo ai mà cả cha lẫn mẹ đều muốn gọi nó là Gioan, một tên không có trong họ hàng thân thuộc. Gioan có nghĩa là Chúa chạnh thương, Chúa đoái nhìn, Chúa muốn cứu độ. Cái tên thật hay, nhưng ai bảo hai ông bà biết mà chọn? Người ta chưa kịp hết ngạc nhiên thì Zacarya đã bật miệng hát lên bài ca chúc tụng. Phải chăng 9 tháng câm đã cho ông thời gian suy nghĩ về lòng Chúa nhân ái, chạnh thương, muốn nhìn lại Israel để ra tay cứu độ như lời đã hứa cùng tổ phụ Abraham và cho đến muôn đời?

Thánh Luca đã tỏ ra lỗi lạc trong bài tường thuật hôm nay. Người không chú ý đến ngày sinh nhật của Gioan. Người mời chúng ta tham dự nghi lễ cắt bì, tức là nghi thức tiến dâng hài nhi lên làm con Chúa. Nói đúng hơn, người chỉ nhắc đến tên lễ nghi này để đưa mắt chúng ta hướng về Chúa để thấy Chúa đang đoái nhìn, chiếu cố, chạnh thương và muốn cứu độ Dân Người. Thánh Luca dùng mọi yếu tố có thể tìm thấy để làm nổi bật tên Gioan khiến người ta thấy rõ Chúa đang thể hiện Lời hứa cho Israel và các dân tộc. Đó không phải là tên của ông nội đứa bé, cũng chẳng phải là tên của ai trong họ hàng thân thuộc. Làm sao cả cha lẫn mẹ không đồng ý trước mà lại nói ra cùng một tên? Và tên này chỉ có thể bắt nguồn từ mầu nhiệm Chúa đoái thương hai ông bà cũng như hài nhi và toàn dân.

Nếu được phép tìm hiểu thêm nữa, chúng ta hãy để ý: ở đây, chính uy quyền của người cha giải quyết vấn đề đặt tên cho con trẻ; còn trong trường hợp Hài nhi sẽ sinh ra ở Bêlem, chính Đức Maria là người trước hết có nghĩa vụ phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu. Phải chăng Gioan dù sao cũng còn là con cái của xác thịt nên thuộc quyền cha; còn Cha của Đức Giêsu là Thiên Chúa, nên quyền đặt tên cho Người tùy ở Đức Mẹ Đồng trinh?

Dù sao, hôm nay Giáo Hội rất vui mừng vì được Gioan, tức là được ơn Chúa chạnh thương, đoái nhìn, muốn cứu độ Dân Người. Chính người Dothái thời Gioan đã nghĩ như vậy, nên họ nóng lòng chờ đợi xem Chúa sẽ ra tay thế nào nơi hài nhi mới sinh.

  1. Hành động của Gioan

Cũng một tác giả sách Tin Mừng thứ ba đã viết về Gioan như hôm nay chúng ta nghe đọc trong sách Công vụ các Tông đồ. Ông để cho Phaolô nói với những người kính giới Thiên Chúa và đang chờ đợi Lời cứu thoát. Dù không sống ở đất Dothái, nhưng họ chia sẻ mọi tâm tình tôn giáo của đồng bào nơi cố hương. Sống giữa dân ngoại và trong nền văn hóa Hylạp, những người Dothái “thiên cư” (diaspora) đang nghe Phaolô giảng trong hội đường vào ngày sabbat. Họ đã nghe biết về Gioan và đang chờ các hậu quả của việc người xuất hiện. Người đã rao giảng phép rửa thống hối. Nhưng nghe đâu người đã bị bắt và bị giết vì đã khẳng khái lên án tội loạn luân của vua Hêrôđê. Người là Đấng thánh chắc rồi. Các môn đệ của người đang hoạt động. Không biết rồi sẽ ra sao. Nay Phaolô đến cho họ biết: khi vận nghiệp gần mãn, Gioan đã nói: “Các người tưởng tôi là gì, thì không phải tôi đâu. Nhưng này đang đứng sau tôi, Đấng tôi không đáng cởi dép chân Người”. Rồi Phaolô tiếp tục nói với người ta về Đức Giêsu. Người đã làm công việc của Gioan, vì tựu trung hoạt động của Gioan cũng là giới thiệu Đức Giêsu Cứu thế là tình thương cứu độ của Thiên Chúa. Phép rửa mà Gioan đã làm, tuy quan trọng vì từ đó đã khiến người được mệnh danh là Tẩy giả, cũng chỉ nhằm mục đích giúp chúng ta thống hối tội lỗi để đón nhận Đức Giêsu Kitô. Gioan đúng thật là tôi tớ, khiêm tốn và chăm chỉ làm việc để tôn vinh Chủ mình. Ông không lợi dụng lòng phấn khởi lầm tưởng của người ta khi họ muốn coi ông như cứu thế. Ông công nhận không đáng cởi giầy cho Đấng ấy, tức là không đáng làm môn đệ của Người.

Chính vì Gioan đóng đúng vai trò của vị tiền hô mà ngày nay hơn hết mọi vị thánh, người còn sống động trong sinh hoạt của Hội Thánh. Hội Thánh không ngừng cử hành mầu nhiệm cứu độ, nên luôn luôn nhắc đến Gioan. Hội Thánh mừng sinh nhật của người để biết hừng đông ơn cứu thế đã nổi lên ở chân trời trong đời sống của Dân Chúa. Hội Thánh nghe tiếng người trong mùa vọng Phụng vụ để thanh tẩy tâm hồn và đời sống hầu chuẩn bị ngày Chúa đến. Hội Thánh kính nhớ sự chết của người để được báo tin về cuộc tử nạn cứu thế của Đức Kitô. Thánh Gioan là tiên tri được sai đi trước mặt Đức Giêsu Cứu thế thì người còn sống mãi trong tâm tư của Hội Thánh đang đi đón Đức Kitô trở lại. Có thể nói Hội Thánh phải gặp thánh Gioan trước, tức là phải thanh tẩy, chuẩn bị nên Dân tốt lành hầu đón nhận ơn Chúa đến viếng thăm. Và như vậy thiết tưởng đã đủ để nói lên điều này, là cho đến ngày Đức Giêsu Kitô trở lại, chúng ta phải nghe lời Gioan giảng, phải thi hành việc người truyền, phải hành động và trở nên như người.

Chúng ta hãy làm công việc này nhờ những bài Kinh Thánh hôm nay đã nói về thánh Gioan. Chúng ta luôn nhớ ơn gọi tiền định; chúng ta luôn suy ngày được hiến dâng cho Chúa và nhận tên là Kitô hữu, một danh hiệu nói lên tình thương cứu độ của Chúa. Nhất là chúng ta bắt chước thánh Gioan có đời sống thanh tẩy tội lỗi và luôn khiêm tốn giới thiệu Đức Giêsu Cứu thế cho mọi người.

Giờ đây chính Chúa sẽ đến gặp chúng ta trong thánh lễ. Chúng ta hãy có lòng thống hối như muốn cúi xuống cởi giầy cho Người… Chúng ta sẽ được Người nâng lên như có lần Người đã tôn vinh thánh Gioan trước mặt mọi người: Thầy bảo thật trong muôn vàn con cái mà đàn bà sinh ra không ai quý trọng hơn Gioan, nhưng kẻ bé nhất trong Nước Trời còn hơn ông. Vì Gioan chỉ là vị tiền hô, còn chúng ta từ nay là bạn hữu, là Kitô hữu. Ước gì chúng ta hiểu như vậy để từ nay sống xứng đáng hơn với danh hiệu này. Và như thế, chúng ta sẽ tôn vinh Chúa, sẽ tiếp tục làm công việc của thánh Gioan là giới thiệu Chúa cho mọi người.

SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ  (Suy niệm của Lm. Vũ Phan Long)

Đây là một lễ lớn, một đại lễ của niềm vui, nhưng nhất là một lễ của lòng từ bi thương xót!

1.- Ngữ cảnh

Giống như Tin Mừng Mt nhưng không lệ thuộc vào Mt, tác giả Luca mở đầu Tin Mừng bằng một trình thuật về thời thơ ấu của Đức Giêsu. Nhưng ngài là tác giả duy nhất đề cập đến thời thơ ấu của Gioan Tẩy Giả.

Phần tường thuật về Thời thơ ấu có hai cánh:
– Cánh các lời loan báo (1,5-56),
– Cánh các cuộc chào đời (1,57-2,52).
Truyện Gioan chào đời được đặt song song với biến cố Đức Giêsu giáng sinh.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Gioan chào đời (1,57-58);
2) Gioan được cắt bì và đặt tên (1,59-66);
3) Kết: Ghi nhận về Gioan lớn lên, vào hoang địa và ra mắt (1,80).

3.- Vài điểm chú giải

– Nghe biết (58): Khi biết mình có thai, bà Êlisabét đã ẩn mình (x. 1,24), nên láng giềng và những bà con khác (trừ Đức Maria) không biết gì về tình trạng của bà, cho đến khi đứa bé chào đời.

– cắt bì (59): Theo St 17,11, cắt bì là ghi “dấu giao ước” cho cậu bé trai. Thường người cha sẽ cắt bì cho con (x. St 21,4).

– lấy tên cha … mà đặt tên cho em (59): Theo bản văn Lc, em bé được đặt tên khi cắt bì. Tuy nhiên, người Do Thái Paléttina có thói quen đặt tên con ngay vào lúc chào đời (x. St 4,1; 21,3; 25,25-26), và thường do người mẹ (St 29,31-30,24; 1 Sm 1,20), đôi khi do người cha (x. St 16,15; Xh 2,22) (xem R. de Vaux). Do đó, có những nhà chú giải nghĩ rằng tác giả Lc đã đưa vào đây một cách thực hành của người Hy Lạp, bởi vì tại Hy Lạp cổ thời, người ta thường đặt tên cho con vào ngày thứ bảy hoặc thứ mười sau khi sinh.

– Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả (61): Tuy nhiên, “Gioan” đã từng là tên của các thành viên dòng họ tư tế thời hậu Lưu đày (x. Nkm 12,13.42; 1 Mcb 2,1-2).

– bàn tay Chúa (66): Đây là một kiểu nói như nhân của Cựu Ước (x. 1 Sb 28,19; 4,10) nhằm diễn tả rằng Thiên Chúa uy quyền che chở và hướng dẫn Gioan. Thế nhưng Ngài vẫn không tránh cho Gioan khỏi tù và khỏi chết bởi tay Hêrôđê Antipa (x. Lc 3,20; 9,8).

– lớn lên (80): Đây là một điệp khúc của tác giả Lc (x. 2,40.52). Câu văn được phỏng theo Tl 13,24-25 và 1 Sm 2,26.

– sống trong hoang địa (80): Dựa vào đây, các chuyên viên đề ra giả thuyết là Gioan đã qua thời trai trẻ tại cộng đoàn Êxêni tại Qumran. Đây là giả thuyết không bảo vệ được và cũng không phi bác được.

4.- Ý nghĩa bản văn

* Gioan chào đời (57-58)

Đoạn tường thuật ngắn ngủi này kể lại cuộc chào đời của Gioan và niềm vui do biến cố này đưa lại. Tác giả Lc kể lại truyện này với hai sắc thái. Trước tiên, biến cố cho thấy lòng từ bi thương xót của Đức Chúa đối với dân Ngài khi cất khỏi bà Êlisabét nỗi ô nhục son sẻ. Truyện cũng nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa tỏ lòng từ bi thương xót ra khi chơi chữ trên tên “Gioan”. Ân huệ mà Ngài tỏ ra như thế không chỉ nhằm chiếu cố đến bà Êlisabét mà còn chiếu cố đến dân Ngài là Israel như một toàn thể. Đứa bé này, sinh ra từ những cha mẹ son sẻ, trở thành nguồn đưa lại niềm vui cho láng giềng và bà con thân thích, như sứ thần đã tiên báo.

* Gioan được cắt bì và đặt tên (59-66)

Đứa trẻ sinh ra được tám ngày thì phải làm phép cắt bì (x. Lv 12,3). Khi được cắt bì, em bé được ghi “dấu giao ước” (St 17,11) và được tháp nhập vào Israel (Gs 5,2-9). Từ nay, em được chia sẻ cách phúc lành Thiên Chúa hứa cho dân Ngài (Gs 5,6-7), nên có thể cử hành lễ Vượt Qua với họ (Xh 12,44-49). Cắt bì cũng có nghĩa là buộc phải tuân giữ Luật Môsê. Còn về việc đăt tên, đối với người Do Thái, cái tên rất quan trọng, vì nói lên tương lai của em bé. Có nhiều truyện trong Cựu Ước giải thích ý nghĩa của các tên: “Isaác”, trong tiếng Híp-ri, có nghĩa là “sẽ cười / sẽ mỉm cười” và yếu tố “mỉm cười” này thường xảy ra: Sara mỉm cười trong lều; Isaác cười với Ítmaên. Tên “Giacóp” báo điềm gở là “sẽ hất cẳng”, và sau này ông đã “hất cẳng” Exau. Khi Giacóp đã bỏ tính lọc lừa và trở nên đàng hoàng, Thiên Chúa đã cho ông một tên mới là “Israel”, như một dấu chuẩn nhận và đón tiếp. Cũng thế, sau này Đức Giêsu đã cho Simôn một tên mới là “Phêrô”, để dùng ông làm đá tảng xây dựng Hội Thánh.

Bà Êlisabét không đồng ý cho người ta lấy tên Dacaria mà đặt cho em bé, dù đây là tập tục; bà yêu cầu đặt là “Gioan”. Người ta mới hỏi ý kiến ông Dacaria, lúc này vẫn bị câm. Ông “đã xin một tấm bảng nhỏ và viết” tên Gioan (1,63). Hai ông bà đang tỏ ra vâng lời sứ thần khi chọn một tên cho đứa con, bất chấp truyền thống của dòng họ. Sứ thần đã bảo tên bé là Gioan, thì bây giờ phải đặt tên bé là Gioan! Đây cũng là cách tác giả Lc cho thấy các lời ngôn sứ được hoàn tất: điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Ngài sẽ thực hiện.

Tên “Gioan”, Yơhô[k]anan (hoặc: Yô[k]hanan), có nghĩa là “Đức Chúa (ya = yhwh) đã tỏ lòng ưu ái (khanan = charis)” (x. 1,13). Tên này tạo thêm một đường nối giữa hai gia đình, vì nhắc lại lời sứ thần chào Maria, “bà được đẹp lòng (charis) Thiên Chúa” (1,30). Tên “Gioan” như thế có hiểu rằng Israel là đối tượng được Thiên Chúa đặc biệt chiếu cố, và Ngài có một sự quan tâm đặc biệt đến cũng như có một chương trình đặc biệt cho.

* Kết: Ghi nhận về Gioan lớn lên, vào hoang địa và ra mắt (80)

Sau khi chấm dứt bài Benedictus (chúng ta không đọc), tác giả Lc kết thúc hoạt cảnh bằng một ghi nhận nói rằng cậu bé ngày càng lớn lên mọi mặt, và báo trước việc Gioan vào sống trong hoang địa (3,2), chờ ngày “ra mắt dân Israel”.

+ Kết luận

Khi đặt bản văn này vào ngữ cảnh, ta thấy rõ ý hướng của Tin Mừng Lc. Gioan Tẩy Giả và Đức Giêsu được so sánh và đạt đối nhau, nhưng sự cao trọng của Đức Giêsu được nêu bật trong từng chi tiết. Rõ ràng Đức Maria cao trọng hơn ông Dacaria, và con của Đức Maria vô cùng cao trọng hơn con của ông Dacaria. Cốt lõi đầu tiên là thời thơ ấu của Đức Giêsu, và rõ hơn, là truyện Truyền Tin. Rất có thể câu truyện về thời thơ ấu của Gioan Tẩy Giả chỉ là một phần mở do tác giả Lc sáng tác ra để vị Tiền hô giới thiệu Đấng Mêsia.

Chương 1-2 Lc có ý tưởng chủ đạo là sự hoàn tất lời Thiên Chúa hứa ban Đấng Mêsia. Các truyện kết cấu nhịp nhàng và đạt tới đỉnh điểm khi Đức Giêsu được dâng trong Đền Thờ. Trong biến cố này, tác giả đã nhìn thấy Đức Giêsu tỏ mình công khai. Ngài diễn tả được điều đó khi dùng Đn 9-10 trong các lời loan báo cho Đức Maria và Dacaria, cũng như khi dùng Ml 3 trong lời loan báo cho Dacaria, trong bài Benedictus và trong truyện Dâng con trong Đền Thờ. Được quy tụ lại quanh khái niệm “sự hoàn tất các ngày” (đã mãn: 1,23.57; 2,6.21-22), các bản văn thiên sai này nêu bật ý tưởng là thời thiên sai đã đến. Vậy các chương này thuộc lịch sử tôn giáo, được viết theo ngôn ngữ Kinh Thánh.

5.- Gợi ý suy niệm

  1. Đây là một lễ lớn, một đại lễ của niềm vui, nhưng nhất là một lễ của lòng từ bi thương xót! Bởi vì bà Êlisabét, mẹ của Gioan, bị hiếm muộn (x. Lc 1,7.36) và hoàn toàn nhưng-không – do ân sủng – mà bà đã được Chúa ban cho ơn phi thường là cưu mang một người con trong lúc tuổi già (x. Lc 1,36). “Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà”.
    Nhưng đây là một lễ của lòng từ bi thương xót chính là vì cuộc chào đời của Gioan loan báo cuộc chào đời của Đấng Mêsia, Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người, được sai phái đền trần gian để cứu chuộc con người sa đọa từ tội nguyên tổ!
  2. Cuộc chào đời của Gioan đầy những chuyện lạ lùng bao quanh: sứ thần Gabriel loan báo cho ông Dacaria; bà Êlisabét gặp Đức Maria là cơ hội để cho thai nhi nhảy mừng. Và Gioan ra đời đã sống xứng đáng với các phép lạ đó. Nghĩ đến cuộc sống mình, chúng ta hẳn cũng thấy đời của mình đầy ắp phép lạ, hay là cả cuộc đời mình là một phép lạ kéo dài, bởi vì chúng ta cũng là những tiền hô của Đấng cứu thế. Chúng ta đang sống thế nào?
  3. Chúng ta suy niệm về thánh Gioan dựa theo ý kiến của một vài vị thánh. Trước tiên, ta có ý kiến của linh mục Origiênê (Các bài giảng về Tin Mừng Luca, số 4,4-6): “Phần tôi, tôi nghĩ rằng mầu nhiệm Gioan đang được hoàn tất trong thế giới cho tới nay. Người nào được nhắm cho tin vào Đức Kitô Giêsu, thì trước đó tinh thần và sức mạnh của Gioan phải đến trong tâm hồn người ấy để “chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17) và trong những nơi lồi lõm của con tim, “khúc quanh co, phải uốn cho ngay; đường lồi lõm, phải san cho bằng” (Lc 3,5). Không phải chỉ vào thời đó các “khúc quanh co, mới phải uốn cho ngay; đường lồi lõm, mới phải san cho bằng”, nhưng hôm nay cũng còn như thế. Tinh thần và sức mạnh của Gioan đi trước việc Chúa Cứu thế hiển ngự”.
  4. Thánh Ephrem đã dạy (Bài thánh ca được gán cho thánh Ephrem [khoảng 306-373]: “Chính là ngài, thánh Gioan, mà chúng con nhìn nhận như là một Môsê mới, bởi vì ngài đã thấy Thiên Chúa, không phải trong dạng biểu tượng, nhưng hoàn toàn rõ ràng. Chính ngài mà chúng con coi như là một Giôsuê mới: ngài không đi từ bờ này sang bờ bên kia của sông Giođan, nhưng, với nước sông Giođan, ngài đã đưa người ta đi từ thế giới này sang thế giới khác… Chính ngài là Samuen mới đã không xức dầu cho Đavít, nhưng đã ban phép rửa cho con Đavít. Chính Ngài là Đavít mới, đã không bị vua Saun xấu xa bách hại, nhưng đã bị Hêrôđê giết chết. Chính ngài là Êlia mới, được nuôi dưỡng trong hoang địa không phải bằng bánh một con quạ mang đến , nhưng bằng châu chấu và mật ong do Thiên Chúa ban cho. Chính ngài là Isaia mới đã không nói: “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và sinh con” (7,14), nhưng đã công bố trước mặt mọi người: “Này đây bà đã sinh ra Con Chiên Thiên Chúa, Đấng mang tội trần gian” (Ga 1,29)…

“Lạy thánh Gioan, Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn, ngài thật có phúc, vì ngài đã đặt tay trên Chủ của ngài, ngài đã nắm lấy trong tay ngọn lửa có ánh sáng làm các thiên thần phải run sợ! Là ngôi sao mai, ngài cho thế gian thấy Buổi Ban mai chân thật ; là bình minh tươi vui, ngài đã cho thấy ngày vinh quang; là ngọn đèn cháy sáng, ngài đã chỉ cho thấy Ánh sáng có một không hai! Là sứ giả mang ơn hòa giải của Chúa Cha, tổng lãnh thiên thần Gabriel đã được cử đến trước mặt ngài để loan báo cho Dacaria về ngài, như là một hoa quả vượt quá sự chờ đợi của ông… Là người cao trọng nhất trong số các con cái loài người (Mt 11,11), ngài đến đón trước Đấng Emmanuel, ngài đón trước Đấng vượt quá mọi thọ tạo; là con đầu lòng của bà Êlisabét, ngài đi trước Trưởng Tử của toàn thể thọ tạo!”

  1. Mỗi người có ơn gọi của mình. Gioan có ơn gọi của riêng ông, ơn gọi không mấy thông thường. Cũng như mỗi người được Thiên Chúa kêu gọi, Gioan đã chuẩn bị trong lòng sứ mạng được ký thác cho ông. Ông chuẩn bị bằng đời sống ẩn dật. Đó chính là đời sống của ông với Thần Khí Đức Chúa. Đó chính là điều bí mật của ông. Phải chăng đây là một sự mô phỏng, khá mờ nhạt, của sự chuẩn bị của Đức Maria hầu đón tiếp Đức Chúa đến với Bà vào ngày Truyền tin? Bởi vì Đức Maria cũng đã nhận một tên mới do Thiên Chúa ban: thiên thần Gabriel đã gọi Bà bằng cái tên “Đấng đầy ân sủng” (Lc 1,28).

Nguồn tgpsaigon.net

Biết 8 động tác này thì đau lưng, đau vai gáy không còn là vấn đề nữa!

Đau cổ và vai gáy là bệnh thường xuất hiện ở dân văn phòng do phải làm việc nhiều với máy tính hoặc ngồi lâu trong một tư thế. Bệnh ảnh hưởng khá lớn đến sinh hoạt hàng ngày, vì thế chúng ta cần tìm cách chữa càng sớm càng tốt.

Với các nhân viên văn phòng, do phải làm việc nhiều với máy tính hoặc ngồi lâu trong một tư thế… nên rất dễ dẫn đến hiện tượng đau cổ và vai gáy, thoái hóa đốt sống cổ. Cơn đau có thể nhanh chóng chấm dứt, tuy nhiên chúng cũng rất dễ tái phát lại trong khoảng thời gian ngắn.

Bệnh ảnh hưởng khá lớn đến sinh hoạt hàng ngày của mọi người, vì thế chúng ta cần tìm cách chữa càng sớm càng tốt. Ngoài việc chữa bằng thuốc, châm cứu hoặc bấm huyệt, bạn còn có thể thực hiện những bài tập cực đơn giản dưới đây nhằm giúp mình nhanh chóng đẩy lùi chứng đau mỏi cổ và vai gáy.

Động tác 1

Động tác 2

Động tác 3

Động tác 4

Động tác 5

Động tác 6

Động tác 7

Động tác 8

Những động tác này rất đơn giản lại không chiếm quá nhiều thời gian của bạn, vì thế còn chần chừ gì mà không đứng lên và tập ngay nào! Ngay cả khi chưa có hiện tượng đau hoặc thoáng đau nhẹ, bạn cũng có thể luyện tập các động tác trên để phòng ngừa chứng bệnh này!

GD&TĐ
Theo phunugiadinh/bestie
Nguồn: GD&TĐ

BA ● Làng quê xưa, những ngày không êm ả.

Dom. Nguyễn Toàn Đông

… Từ những năm cuối thế kỷ 19, Mai Phốp được các vị giáo sĩ người Pháp gầy dựng. Các vị chèo ghe từ Cái Mơn qua. Vị trí hiện tại là địa điểm thứ hai. Lần đầu, một ngôi nhà thờ bằng lá đuợc dựng lên ở vàm Mai Phốp; chổ con sông hiện giờ chảy vào sông Cổ Chiên. Khơi lại chuyện này vì có lẽ các vị khai sáng lúc đó rất am hiểu địa hình nên mới chọn lại nơi hiện tại. Khuôn viên nhà thờ hiện nay nằm trên một con giồng. Giồng là một vùng đất cát. Dù không rộng mênh mông, nhưng đủ để kiến tạo một khu vực cao ráo. Mùa mưa không bị lầy lội.

Những gia đình ở cận kề nhà thờ được gọi là “xóm giồng trong”. Kế đến là Đất Thánh. Song song với Đất Thánh là một sân đá banh. Rồi những gia đình kề cận tiếp theo được gọi là “xóm giồng ngoài”. Bao quanh hai xóm giồng (đất cát) này là xóm Bưng và xóm Biền. Bưng có nghĩa vùng ruộng thấp, đất lầy. Biền là vùng ruộng cao, đất gò. Hai vùng bưng biền này là những cánh đồng lúa của Địa Phận và họ đạo. Tất cả là năm ngàn mẫu ruộng, đủ cung cấp lúa gạo cho Tiểu và Đại chủng viện đến năm 1975. Chỉ còn những gia đình bên khu chợ được gọi là “xóm chợ”. Sau này, trào cha Giacôbê Tỏ về mới có thêm “xóm đất liếp”. Xóm này đã là nguyên cớ gây bao phiền toái cho ngài. Và hầu như cha Giacôbê phải rời Mai Phốp cũng vi cái xóm đất liếp này.

Đất Thánh và sân đá banh, theo tôi hiểu, là hai di sản quý giá mang dấu ấn sâu đậm nhất của người Pháp còn lưu lại sau khoảng mười năm họ đồn trú ở đây.

Lúc đó là nhũng năm cuối thập niên 50, đám trẻ con chúng tôi thỉnh thoảng có dịp vô Đất Thánh chơi. Thường nhứt là để bắn chim. Dù là nơi chôn cất, nhưng không có vẻ gì ghê sợ. Trái lại, phong cảnh nơi đây rất đẹp. Khu đất rộng chừng non một mẫu tây. Chung quanh là những cây sao cách khoảng đều đặn, thẳng hàng. Những cây sao ấy đã khá cao. Mùa có gió, bông sao hình chong chóng bay đầy trời. Ngay chinh giữa sân có dựng một cây Thánh Giá. Bóng Thánh Giá với dáng vẻ lặng lẽ, im lìm một mình giữa khu đất rộng rãi tạo cảm giác trầm mặc khi vừa bước vào cổng rào. Ngay phía trước, sau và hai bên cánh Thánh Gía là bốn lối đi thẳng tấp đến tận cùng khu đất. Chiều ngang các lối đi rộng chừng hơn hai mét, đủ cho xe nhà giàn (xe chở quan tài) chạy vào. Cả bốn lối đi cùng gặp nhau tại chân Thánh Giá. Thời bấy giờ, các ngôi mộ thường là mộ đất và còn trống trải. Mỗi ngày có ông từ ra vô làm cỏ, trồng bông dọc các lối đi. Cha sở rao trong nhà thờ không ai được thả trâu bò vào khu Đất Thánh. Tôi thích đi chơi quanh khu vực này mà không thấy sợ gì. Sau này, khi lên Vĩnh Long học, tôi càng ngạc nhiên hơn khi thây Đất thánh Tây ở Vĩnh Long gần như giống y với khu đất họ đạo dưới quê tôi về cảnh quang.

Bây giờ, hình ảnh thân thương của khu Đất Thánh quê tôi đã biến mất từ hồi nào không biết. Có dịp trở lại thăm mộ gia đình thì chỉ còn một dấu vết duy nhất là bóng cây Thánh giá, vẫn lặng lẽ một mình. Hầu như không còn một chổ nào trống. Toàn mộ là mộ. Thêm nữa, gia đình nào cũng đua nhau xây cao lên cho dễ thấy (?) giữa một rừng mộ. Cảnh tượng ngổn ngang như chổ dành cho ma thực sự, hơi hơi lạnh người.

Cũng ngày xưa, song song với Đất thánh là một sân đá banh. Diện tích sân nhỏ hơn một sân bình thường nhưng được chăm chút tỉ mỉ như một công viên. Đây là một chứng tich quan trọng do quân đội Pháp để lại. Đa số lớp thanh niên thời đó đều biết đá banh. Những trận đấu được tổ chức thường xuyên làm cho người dân mọi độ tuổi am tường và mê mẩn môn thể thao này. Mặt sân luôn được giữ bằng phẳng. Cỏ trồng trên sân lúc nào cũng xanh mượt. Dù ở một nơi trống trải nhưng người đi đường không được dặm lên cỏ của sân. Môn đá banh được các ông (và cả các bà nữa!) thừa hưởng và phát triển cũng nhờ sự có mặt của Tây. Nên khi họ đã rời khỏi nơi đây, cái sân đá banh này còn ở lại như một tài sản tinh thần mà người bản địa nhận lấy chẳng khác gì một món quà hiếm hoi giữa bao tranh cải rằng người Phú-lang-sa (français) đến đây lợi và hại thế nào cho một vùng khá là quê mùa. Nhưng xui rủi lại xảy ra: Hôm nay, cái sân đá banh vàng son một thời cũng gần như không còn chút hình hài gì của ngày xưa ngoài một vài dấu vết nghèo nàn, xấu xí còn lại trơ trọi. Cái cảm giác tiêu hủy một công trình có giá trị cao về văn hóa, quyến rũ về cảnh quang không biết có phải do cuộc sống quá khó khăn hay sao mà người ta dành dứt bỏ. Một cụm hoa bị đào bới tan tành để thay vào đó một cây khoai mì?

Cha Felix Lê Vĩnh Trình về nhậm họ đạo Mai Phốp năm 1940. Năm 1956, cha rời nơi đây về Cái Bông.

Những năm từ 1945 trở về sau đầy biến động xảy ra khắp đất nước. Trước 1945, dù chính phủ thực dân Pháp vẫn còn ở VN nhưng là phía đang thua trong Đệ II Thế chiến. Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh thì Pháp trở thành phe thắng trận. Và năm 1946, họ quay trở lại VN muốn tiếp tục cai trị như trước. Khổ nỗi là ngay tháng 8 năm 1945, Việt Minh đã cướp chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim ở Hà Nội.

Gia đình tôi, tính theo gốc gác cũng là gia đình tản cư. Ba gia đình trong gia tộc tản cư từ họ nhỏ Bưng Trường xuống Mai Phốp. Chưa kể những gia đình lối xóm. Lúc ấy, tôi nghe mấy anh con nhà bác nói là mình phải bỏ đi vì mất an ninh. Lâu lâu, người ta lại thấy “thằng chổng” trôi sông. Đó là những người bị Việt Minh sát hại. Bị thả trôi sông, nhưng trên thân mình luôn có tấm giấy kết tội là phản động hay… gì đó. Mấy lần, tôi có nghe cha tôi kể rằng Việt Minh ban đêm dùng loa rao trong xóm là ai có nuôi chó thi phải giết chó đi. Họ hoạt động vào ban đêm nên không thể có tiếng chó sủa được. Cuối cùng, Cha Felix mới biểu những người có đạo ở các họ nhỏ mất an ninh hãy tựu về Mai Phốp để Cha bảo vệ cho.

Tôi đoán chừng vài năm sau 1946 thì Cha Felix đưa quân đội Pháp về đây. Hoàn cảnh lúc đó đưa đẩy làm cho tình thế họ Mai Phốp thành như một lãnh địa đối đầu với Việt Minh. Cũng có những hoạt động quân sự như hành quân quanh khu vực hay bắt giữ những người bị tình nghi là Việt Minh.

Cha Felix có hẳn một đội gạc-đờ-co (garde-corps). Bác ba Tỵ là trưởng đội. Nhà bác ở ngay phía sau nhà thờ. Thời đó, bao quanh khuôn viên nhà thờ là những gia đình thân cận hay đáng tin cậy với cha sở. Các gia đình nầy liền kề nhau như một vành đai để tạo sự an toàn cho khu vực nhà thờ (?). Đặc biệt, nhà bếp của cha sở cũng nằm trong vành đai này, do hai cô Tư và cô Sáu phụ trách. Khu nhà bếp kính cổng cao tường không ai vô được (vì lý do an ninh?). Khi Cha Felix đổi đi rồi, cô Tư cô Sáu vẫn còn ở lại một thời gian (tôi không nhớ bao lâu). Có vài lần, tôi vô được nhà bếp “của cha sở cựu” vì có Thượng là bạn học. Thượng ở đây từ nhỏ. Lúc đó khoảng trước sau năm 1958 gi đó mà trong nhà đã có tủ lạnh chạy bằng một cái đèn dầu lửa nhỏ đặt phía ngoài dưới đáy tủ lạnh. Đây là lần đầu tiên tôi được chỉ cho thấy đó là cái tủ lạnh.

Sau đó, cô Tư lên Vĩnh Long mở một tiệm bán ảnh tượng thánh nơi dãy phố Đức Cha, tức dãy phố đối diện chợ Tân Bình ở ngã ba Cần Thơ. Cô Sáu thì không rõ đi đâu. Mãi đến năm 1972, tôi gặp lại cô Sáu, là bà bếp cho Đức Cha Simon Hòa Nguyễn văn Hiền, GM giáo phận Đàlạt !!. Thượng, bạn thời tiểu học theo cô Tư về Vĩnh Long học trường Nguyễn Trường Tộ. Và thật không may, Thượng bi chết đuối ngay trước sân trường Nguyễn Trường Tộ trong một lần tắm sông vào năm 1961. Một chi tiết khá lạ lẫm là chưa một lần tôi được nghe ai nhắc chuyện Thượng là ai hay con của ai cho đến khi bạn mất. Không nhắc tới; cũng không thắc mắc về một đứa nhỏ sống đơn độc trong hoàn cảnh như vậy! Như một điều cấm kỵ? Đến hôm nay, chuyện ấy vẫn là một bí mật không có lời giải khi có dịp nhớ lại.

Ngày trước, vị thế của một linh mục chánh sở thì đầy uy quyền. Con chiên rất ngoan ngoãn tuân phục. Với quân đội Pháp trong tay, ngài lại có thêm vũ lực hùng mạnh. Hinh ảnh người đứng đầu hiện lên đầy vẻ huyền thoại. Người thường không dám tới gần là chuyện không có gì lạ. Như lần trước đã nhắc tới, trong sân nhà thờ là nơi đồn trú của lính tiểu đoàn (theo cách gọi lúc bấy giờ) bao gồm commando và partisan của Pháp.

Biết đâu, nguồn cơn cũng nẩy sinh từ ý nghĩ tốt đẹp ban đầu là muốn bảo vệ đàn chiên?  Mãi đến sau Công Đồng Vaticanô II thì Giáo Hội mới giải “vạ tuyệt thông” đối với Cộng sản vì tội vô thần!! Từ trước đó, ai theo CS là bị “dứt phép thông công”. Nếu chết thì chỉ có nước xuống hỏa ngục. Trong nhà thờ, có khi nghe đọc: “Xin Chúa hãy hạ những kẻ phản nghịch cùng Hội Thánh xuống.” Từ sau Vaticanô II, Giáo Hội mới chính thức gọi người Cộng sản là những người anh em vô thần.

Và lại… biết đâu, trong suy nghĩ lúc ấy, thu tóm vũ lực của thế quyền với thần quyền vào một mối là mới đẹp lòng Chúa (?). Thực hư thế nào thì sức người không tài nào thấu đáo được. Nhưng ánh mắt nghiêm khắc của người mẹ đã vô tình làm cho nhiều đứa con lãng tránh.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có ông tám Đạo từ Bắc trở về. Ông gốc là người Công giáo tại đây thời cha Felix. Ông làm chức vụ gì đó ở tòa án Huyện. Vài lần gặp ông ghé chơi tại nhà xứ, tôi nghe ông hát văng vẵng những bài hát bằng tiếng Latin. Không rõ ngày xưa có sự đụng chạm gì giữa họ đạo và cá nhân ông. Ông bỏ đạo đi theo Việt Minh. Tôi nhớ đâu chừng vài tháng sau khi quay về đây; ông yêu cầu có một buổi nói chuyện với “đồng bào Công giáo”. Vì là lúc giao thời, ai cũng sợ nên bà con tới dự đông đảo. Nhà thờ phải lo máy ampli, loa phóng thanh cho ông. Tôi ở nhà nhưng nếu lắng tai thì nghe rõ mồn một. Giọng ông có vẽ giận dữ. Câu chuyện thì cứ xoay quanh chuyện Giáo hội Công giáo luôn chống Cộng; trong đó, họ đạo Mai Phốp đã một thời làm mưa làm gió!!!. Tôi còn nhớ ông nói rằng năm 1959, ở Sài-Gòn có tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu. Theo ông, tại sao kiệu tượng Đức Mẹ mà phải có xe tăng, máy bay theo yểm trợ là sao? Chổ khác, ông hỏi rằng (ám chi thời cha Felix) mình ngồi tòa giải tội cho giáo dân mà mình hỏi người đi xưng tội có biết ai trong xóm mình là Việt Minh hay người nào đó có phải Việt Minh không, thì sao đây? Tất cả những chuyện đó tôi không thể nào biết được đúng sai, vì lúc đó mới năm ba tuổi. Nhưng tôi còn nhớ sau cái ngày “ai cũng chỉ biết lặng thinh” ấy tâm trạng những người có mặt rất u buồn… Chắc ai cũng cảm được thời cuộc đã thay đổi; cuộc sống sẽ bắt đầu những ngày chưa biết ra sao nhưng lành ít dữ nhiều…

Ngoài ông tám Đạo, còn có bác xã Phong. Có lẽ trước kia bác làm xã trưởng nên gọi như vậy. Còn nhớ lúc xưa, cha tôi có mời bác đến chích thuốc cho tôi mấy lần. Hồi xưa gọi là “đi rước thầy”. Tôi còn nhớ rỏ bác có dáng cao, luôn mang kiếng trắng, vầng trán cũng cao. Bác có phong thái của người học thức. Trước khi chích, bác đưa ống chích ngược lên ngang tầm mắt rồi bơm một cái thật mạnh. Khi thấy tia thuốc bắn lên cao thi bác mới chích. Bác xã Phong cũng thoát ly theo Việt Minh thời đó. Rồi tập kết như ông tám kia. Nay trở về, bác thinh lặng không nói lời nào; cũng không một chức vụ gì trong chính quyền và rất ít xuất hiện. Tôi không biết gì về những chuyện của bác ngày xưa. Nhưng với hình ảnh còn đọng lại từ mấy chục năm trước, tôi lại thấy mến bác. Với phong cách ngày xưa như vậy, chắc bác là một người theo tây học, có nhiều kiến thức hơn người.

Năm 1961, trong một lần bị phục kích, Cha Felix đã tử nạn trên đường tại Cái Bông. Thời khắc định mệnh ấy đã chấm hết một thời kỳ đầy vinh quang cũng như giông bảo của ngài. Bác ba Tỵ đưa anh em trong đội cận vệ trở về Mai Phốp. Như trở về ngôi làng Emmaus ngày xưa !!. Chắc chắn tâm trạng quý ông nảo nùng khôn tả. Tôi còn nhớ cánh tay trái của một người còn trẻ bị thương khá nặng. Chứng tỏ các cận vệ đã liều thân với thầy. Tôi tưởng tượng những ngày xa xưa của họ khoảng mười lăm năm về trước. Bao nhiêu là hăng say lúc còn trẻ đã thôi thủc các anh để cảm thấy vinh dự được đứng sau lưng một vị mà các anh ngưỡng mộ. Chắc ngày xưa các anh cũng từng cưu mang những hoài bão. Các anh đã một lòng với thầy đến độ không ngần ngại theo bảo vệ thầy khi ngài phải rời khỏi nơi đây năm 1956. Đây là năm bản lề sau hiệp định Genève. Người Pháp phải ra đi để trao trả toàn quyền lại cho miền Nam. Giờ đây, khi các anh luống tuổi thì tình thế lại quá là trớ trêu. Các anh đã “đi không rồi trở về cũng không”. Còn tệ hơn không. Bổng chốc, tôi lại nhớ đến một nhân vật trong sử Việt: Tướng Mạc Đăng Dung. Ông có làm bài thơ , tựa là Thuật Hoài. Hai câu cuối như sau:

Thù trả chưa xong đầu đã bạc.
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
(Bản dịch của Trần Trọng Kim)

Đây là tâm sự của ông. Sử sách đã ghi nhận những đóng góp hữu ích của nhà Mạc. Câu chuyện cũng bắt đầu từ tấm lòng đầy nhiệt huyết của Mạc Đăng Dung. Ông là một võ tướng với cây “đại trượng” từng làm bạt vía quân thù. Khi thấy thế sự đảo điên, ông muốn khôi phục kỷ cương xã tắc. Nghĩ rằng đây là thiên ý và với thần trượng ngàn cân này, mình sẽ là minh vương cho trăm họ. Nhưng rồi một ngày, ông biết mình không thể đội đá vá trời được… Ngồi mài gươm dưới ánh trăng, nhìn thấy tóc đã bạc mà chuyện mưu sự chưa tới đâu là đâu…

Lúc đương thời, dễ nghĩ rằng mình là kẻ bất bại. Chung quanh chỉ là cỏ rác. Khi đương sức vóc, cứ tưởng chỉ cần trở bàn tay là xong chuyện. Những tưởng mọi việc sẽ đi tới như mình mong muốn. Nhưng rồi… mới biết thời gian không dung nể một ai. Những biến chuyển thế sự không thiên vị người nào.

Mãi về sau này, mỗi khi nhắc đến Cha Felix bà con đều gợi lại những câu chuyện oai hùng của ngài. Có người còn gọi Cha là vua Đa-vít thời đại! Hay cũng là một phương cách để khỏa lấp những phiền toái kèm theo (?). Thật vậy, có lắm chuyện không ngờ trước được. Thời thế thay đổi; trắng lại thành đen.

Dù sao, người đời vẫn trọng nể nhà Mạc mặc dù việc lớn không thành. Mưu sự tại nhân… Ai mà nắm hết được tương lai. Làm sao qua được lòng Trời… Mới ngộ ra rằng có sự khác biệt với Cha Felix vì là một nhà truyền giáo nhưng đã hành xử như một nhà quân sự. Tất cả vấn đề là ở đây.

Khi cương quyết ra tay thì tự nhiên hay đem vũ lực ra để “xoá sổ” đối phương. Nhưng… không đơn giản chút nào. Anh hùng cô đơn rồi sẽ… rất cô đơn. Một mình một ngựa rồi cũng sẽ tàn lụi theo thời gian. Đời người thì quá ngắn ngũi so với đại sự. Muốn tạo cả mùa xuân chỉ với một cánh én thì chỉ là giấc mơ mà thôi.

Bách Tùng Cao Nguyên 10.6.2018.
Ng.Toàn Đông.

“Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người” | Chuyện Phiếm Đạo/Đời

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 12 Thường niên năm B 24-6-2018

“Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người”

Chạnh lòng tôi khơi . . . bao niềm nhớ
Người nơi xa xăm phương trời ấy
Người còn buồn còn thương còn nhớ
Nắng phai rồi . . . em ơi!
(Nguyễn Văn Đông – Nhớ Một Chiều Xuân)

(Thư Phillíphê 1: 3-11)  

Ấy chết! “Nắng phai rồi” mà sao nghệ sĩ nhà mình cứ nhìn hoa lại thấy người, nhất là về đêm? Bần đạo bầy tôi đây thì lại khác, cũng chẳng văn hoa thi-tứ gì cho cam, thế nên hễ đã nhìn người là thấy “Văn”; hoặc, nói như các cụ ngày xưa rày sẽ bảo: “Văn, tức người!” 

Vâng! Ngày xưa thì thế, chứ hôm nay lại khác. Bởi hôm nay, văn hoa/nét vẻ của “Văn, tức người” cũng tựa như thế; tức: cũng xuất từ thuật-ngữ kỹ-nghệ máy móc/dụng cụ, rất vi-tính.

Vâng. Hôm nay đây, hễ nói đi thì phải nói lại, tức: nói mãi một điều để bảo rằng: “Văn, tức người”, không là chân lý rất chính xác mà, nơi “Văn, tức người” chắc cũng có địa lý/địa-hình chuyên định-vị con người nữa, chứ. Không tin ư? Thôi được, bà con ta hãy cứ để bần đạo bầy tôi đây dẫn nhập đi vào thuật-ngữ của tự-vựng nói ở trên cho “có đầu có đũa” theo kiểu người viết nhạc lại đã ghi thêm nhiều tiểu khúc, như sau:

Ảnh từ Internet

“Chiều Xuân, có một người ngơ ngác đi tìm
Một tình thương nơi . . . phương trời cũ
Chiều nay hoa Xuân bay nhiều quá
Chiều tàn dần phai trên ngàn lá
Tìm đâu bóng . . . hình ai ?
Người vê còn nhớ . . . khúc hát
Người yêu dấu bên bờ thành Vienne
Lòng này còn quyến . . . luyến mãi
Đêm Xuân dài mà đâu có hay
Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời
Đợi mùa Xuân sang tô . . . màu nhớ
Dừng chân trông hoa Xuân hồng thắm
Buồn tìm về tình ai đằm thắm
Giờ vun vút trời mây . . .”
(Nguyễn Văn Đông – bđd)

À thì ra, là thế đấy! Tình đằm thắm, nay “vun vúttrời mây” ở cố đô Huế mình như một nghệ sĩ khác lại cũng cảm-nhận được chốn miền êm ấm ấy, như sau:

“Không phải vì những điều người Huế viết về Huế, đã làm tôi yêu Huế. Vì như vậy tôi phải yêu Hà nội hơn mới có lý. Phải yêu Sài gòn, phải yêu Đà Lạt hơn mới phải. Vậy mà tôi yêu Huế, thỉnh thoảng gặp lại một vài người bạn, tôi năn nỉ “mi nói cho tau nghe chút cho đỡ “dzở”. Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép, nhẹ nhàng. Có một cái gì đó thật mong manh. Như tơ, như sương khó, như một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng như họ không phải là một sự hiện hữu. Một chút hương khói hư ảo, chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng đủ làm tan biến đi tất cả. 13 năm qua, chỉ xin nói vài câu cho đỡ nhớ “nhà”.  

Như thế là yêu đấy, nhiều mới khổ chứ. Dù tôi chỉ biết Huế sau Tết Mậu Thân và không quá mười lần ghé Huế. Nhưng tôi yêu Huế bởi từ Huế tôi mới biết thế nào là tình yêu. Tôi không muốn nhắc đến những điều đã được viết quá nhiều về một nơi chốn. Tôi chỉ muốn nhắc đến “Huế của riêng tôi”, và như vậy cũng có nghĩa là mở ra cánh cửa kỷ niệm, của những hân hoan, đau đớn, nhưng ước mơ không thành, những dằn vặt ám ảnh, đeo đuổi tôi suốt 13 năm qua… mười ba năm đã không thành, không nói. Thì bây giờ lẽ ra càng không nên nói. Bởi dù có thêm 100 năm nữa “hai mái đầu xanh giờ đã bạc” cũng chẳng còn bao giờ gặp lại nhau. Nếu có chăng chỉ là kiếp sau.  

Nhưng “tình, tưởng như đã yên mà tâm còn động vọng”. Thì ra mười ba năm với tôi vẫn còn là cơn mộng. Chưa thoát ra được. Không thoát ra được. Không muốn thoát ra. Cố gắng bao che, tự dối mình. Chỉ là một cơn mộng. Đêm sẽ qua, mộng sẽ tàn. Ta sẽ tỉnh. Thấy tóc còn xanh với lời dặn “que đèo Hải Vân nhớ cột tóc, kẻo gió bay nghe em…”(X. Khánh Ly, Đằng Sau Những Nụ Cười, nxb Văn Học 2015 tr. 44) 

Nói thế, há bảo rằng: “Không phải vì các bậc thánh-hiền nói về Chúa, khiến tôi yêu Chúa. Nhưng vì nhiều sự khác, chẳng hạn như những người tôi quen/biết hoặc thương/yêu nói về và sống thực tình thương/yêu Chúa từng sống, đó mới là động-lực thúc đẩy to lớn này…”  

Thật ra thì, nói gần nói xa chẳng qua nói thật thêm lần nữa, mà bảo rằng: người xưa từng nói: “Văn, tức người”. Còn hôm nay, bần đạo đây, lại xin thêm rằng: địa hình/địa lý vẫn có lý với người đời, là như thế.

Còn, nhà Đạo mình nhận-định thế nào đây? Nhà Đạo mình, có đấng bậc không nói văn-hoa, thi-tứ cứ lẩn-quẩn nhưng chỉ phán. Phán, một cách chắc-nịch bằng một giảng-giải về địa hình/địa lợi theo cách khác, mà thôi.

Khác, là khác thế này. Vừa qua, nhà Đạo Sydney có vị đã cả gan “nín thở qua sông” viết thư lên hỏi đấng bậc vị vọng những câu lan man, bàn bạc thế này:

“Thưa cha,
Con có người bạn cũng khá thân theo Chính thống-giáo Cốp-tích lại cứ muốn thuyết phục con bảo rằng đạo của cô mới là đạo chính gốc, còn Công giáo và các nhóm/phái khác, sau Công đồng Calxêđônia, đã ly-khai khỏi gốc/ngọn này. Vậy theo cha, con phải nói làm sao cho cô ta hiểu đây. Xin cha giúp, con rất lấy làm cảm-kích.” (Câu hỏi đây, lại cũng từ một nữ giáo dân hăng say, ở Úc) 

Hăng say hỏi han về lẽ Đạo, vẫn là đặc trưng/đặc-thù của nữ giới rất chuyên chăm. Thế nhưng, câu hỏi đây, có thể nhiều vị cũng chưa rành thế nào là “Chính thống” phái Cốp-tích, thế nào là hệ Phương Đông. Thôi thì, mời bạn và mời tôi, ta cứ nghe đấng bậc trả lời bằng văn-mạch rất chính-xác, bài bản, như sau:

“Đức Chúa của ta đã thiết-lập Giáo-Hội rất thánh lại đặt để thánh Phêrô ở vị-trí hàng đầu như Tin Mừng các tác-giả Mátthêu và Gioan còn ghi chép ở Mt 16: 18-19; Gioan 21: 15-17. Giáo hội ta khi trước, chỉ là Một và đã thuần nhất kết hiệp dưới quyền Đức Giáo Tông là Đấng có quyền cai quản hết mọi người và cũng từng truyền-bá rộng rãi dưới triều đế-quốc La Mã qua nhiều thế-kỷ.  

Theo truyền-thống, chính thánh Mác-cô Tin Mừng đã lập nên Giáo hội ở Alexandria, thủ-đô nước Ai-Cập vào niên biểu 42 sau Công nguyên. Mãi đến cuối thế kỷ thứ nhất, Giáo hội ta mới lan rộng xuyên suốt nước Ai Cập. 

Nhờ vào tính-cách bình-dị được lòng dân của linh mục ở nơi này là Arius là đấng bậc khi ấy phản-bác bỏ ý-tưởng cho rằng Ngôi Lời mặc xác phàm làm người thực sự là Thiên-Chúa Ngôi Hai, Công đồng Nicêa được triệu-tập vào năm 325 để các Giáo-phụ giải quyết vấn đề này, ngay tức thời.  

Khi ấy, Công đồng Nicêa đã thuận theo giáo-huấn/lập-trường của thánh Alexander của Alexandria  và nhất là thánh Athanasius cũng ở Alexandria, quyết lên án Ariuas và tuyên bố Ngôi Lời đích-thực là Thiên Chúa bởi Thiên-Chúa, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Chúa Cha”, như ngày nay ta vẫn quen tuyên xưng như thế ở Kinh Tin Kính vào mỗi Chúa Nhật. Và Hội thánh Chúa ở Ai Cập đã chấp-nhận giáo-huấn của Công-đồng, kể từ đó. 

Giáo hội Chúa, cũng đã chuẩn-thuận giáo-huấn của Công-đồng Constantinople được triệu-tập vào năm 381 khi ấy cũng tuyên-xưng tính thánh thiêng của Chúa Thánh Thần. Và năm 431, Công đồng Êphêsô cũng tuyên-bố Đức Kitô là Đức Chúa gồm hai bản-chất thánh thiêng và con người; đồng thời, Đức Maria là Mẹ Thiên-Chúa. Giáo-huấn của thánh Cyrillô của Alexandria đã tạo nhiều ảnh-hưởng lên trên các tuyên-bố của Công đồng Êphêsô này. 

Thế nhưng, kịp vào thời Công đồng Calxêđônia, giáo-huấn của thánh Cyrillô lại cũng đặt nặng lên tính-chất một ngôi-vị trên Đức Kitô đã được các Tổ phụ của Alexandria là thánh Dioscurus và thày Dòng Eutyches giải-thích cho rõ thêm là Đức Kitô gồm có bản-chất Thiên-Chúa và người phàm nhưng cũng vẫn là Một nằm trong một xác phàm. Giáo-huấn đây, khi ấy được coi là thuyết Đơn nhất tính. 

Các ngài nói thế phải hiểu là chính thánh Cyrillô đã qua đời vào năm 444, thế nên ngài không thể có mặt để giải-thích nội-dung giáo-huấn do ngài đưa ra. Thành ra, vào dịp Thượng Hội Đồng Giám mục ở Constantinople triệu tập vào năm 448, Eutyches đã bị kết án là bè rối đạo. Ông ta bèn chống án lên tận Rôma, nhưng Đức Lêô Đệ Nhất vẫn kết án ông và ngài cũng đã giải-thích tín-lý đích-thực trong Tông thư mang tính-chất giáo-điều của ngài. 

Cuối cùng thì, một Công đồng khác được triệu-tập ở Calxêđônia vào năm 451 có khoảng 600 giáo-phụ hiện-diện. Công đồng đây, tiếp theo sau Tông-thư Giáo-điều của Đức Lêô Cả, cũng đã lên án tính sai-trái của thuyết Đơn-nhất-tính và quyết rằng: Đức Kitô có hai bản-chất, Ngài vừa là Đấng thánh vừa là người phàm. 

Vào lúc này, Giáo hội ta ở Ai Cập không chấp-nhận các tuyên-bố của Công Đồng. Các ngài tự thiết-lập Tòa Thượng-phụ riêng ở Alexandria gọi Đấng làm đầu là Thượng-phụ Giáo-chủ và không còn công-nhận quyền cai trị của Đức Giám mục thành Rôma nữa. Và từ đó, xuất-hiện Giáo-hội mà ngày nay mọi người gọi là Giáo hội Phương Đông Cốp-tích.  

Do bởi Giáo hội Ai Cập đã từng chấp-nhận giáo-huấn của các Công đồng trước đó, và chính Eutyches cũng công-nhận uy-quyền của Đức Giáo-chủ khi ông kháng án với ngài, nên các thành-viên Giáo-hội đây cũng chấp-nhận giáo-huấn của Đức Giáo Hoàng Lêô và cả đến Công đồng Calxêđônia nữa. Thành thử, rõ ràng là chính các vị ấy mới là người tách-ly khỏi Giáo hội duy-nhất, đích-thực của Đức Kitô, chứ không phải ngược lại. 

Vào lúc có Công đồng Florence năm 1442, một phái đoàn Giáo hội Chính thống Cốp-tích đã ký kết một tài-liệu chấp nhận sự hiệp-nhất với Giáo hội Công-giáo, nhưng ở Ai Cập rất ít vị hỗ trợ việc này, thành ra không tạo hiệu-năng gì hết. Thế rồi, vào năm 1713, Đức Thượng Phụ Giáo hội Cốp-tích ở Alexandria một lần nữa đồng ý hiệp nhất với Công-giáo Rô ma, thế nhưng việc này cũng không kéo dài được bao lâu.  

Cuối cùng, vào năm 1824, Đức Giáo Hoàng quyết định thiết-lập Tòa Thượng Phụ Công giáo Cốp-tích ở Alexandria cho một số ít người Công giáo ở đấy. Và từ đó, con số các vị này gia-tăng rất nhanh. 

Cũng nên biết rằng, các mối quan-hệ giữa các Thượng-Phụ Giáo chủ Chính thống Cốp-tích và Đức Giáo hoàng lâu nay rất mật-thiết, lúc gần đây. Cách đây rất nhiều năm, sau khi trở-thành Giáo-chủ Tòa Thượng-phụ ở Alexandria vào tháng 10 năm 1972 Thượng-Phụ Giáo chủ Shenouda đệ Tam đã đi thăm Đức Phao lô Đệ Lục. Đây là sự-kiện đầu tiên có một Thượng phụ Giáo chủ Alexandria làm thế kể từ ngày Giáo hội ly khai từ năm 451. 

Tháng 5/1973, ngài đã thảo một tuyên-ngôn về bản-chất Đức Kitô có sự sự đồng-thuận của Giáo hội Công giáo, và các Giáo hội Chính thống Phương Đông. Đây cũng là bước tiến quan-trọng tiến tới việc tái-thiết sự hiệp-nhất giữa những người Đạo Chúa nói chung. Và, tháng Năm 2013, Đức Thượng Phụ Giáo Chủ thay thế cho Thượng Phụ Shenouda Đức Giáo chủ Tawadros đệ Nhị đã có cuộc họp thân-mật với Đức Giáo Hoàng Phanxicô ở Rôma. 

Dù sao đi nữa, ta cũng nên thêm lời nguyện cầu cho công cuộc hiệp-nhất các Giáo-hội quan-trọng để rồi vào một ngày rất sớm, sắp tới, toàn-thể Giáo-hội theo đủ mọi thể-chế, một lần nữa, sẽ có thể trở nên một trong Đức Kitô.” (X. Lm John Flader, Question Time: Coptic Orthodox and Catholics, The Catholic Weekly 29/6/2014, tr. 22)

Về thời gian, thì: thông tin này có vẻ hơi bị cũ xưa một đôi chút. Nhưng về thực-tế, rất có thể xảy ra điều mà bài hát ở trên từng vang lên câu ca, mà rằng:

“Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người”
Chạnh lòng tôi khơi . . . bao niềm nhớ
Người nơi xa xăm phương trời ấy
Người còn buồn còn thương còn nhớ
Nắng phai rồi . . . em ơi!”
(Phạm Duy/Lê Lan – bđd)

Và cứ thế, mọi người ở đây, hôm nay, hát cùng nhau cất lên tiếng hát, rất cao rằng:

“Chiều Xuân, có một người ngơ ngác đi tìm
Một tình thương nơi . . . phương trời cũ
Chiều nay hoa Xuân bay nhiều quá
Chiều tàn dần phai trên ngàn lá
Tìm đâu bóng . . . hình ai ?
Người vê còn nhớ . . . khúc hát
Người yêu dấu bên bờ thành Vienne
Lòng này còn quyến . . . luyến mãi
Đêm Xuân dài mà đâu có hay
Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời
Đợi mùa Xuân sang tô . . . màu nhớ
Dừng chân trông hoa Xuân hồng thắm
Buồn tìm về tình ai đằm thắm
Giờ vun vút trời mây . . .”
(Nguyễn Văn Đông – bđd) 

Sự thật thì, một khi các đấng bậc nhà Đạo cứ luôn nghe hát những câu tương-tự, hẳn rồi cũng sẽ tìm ra câu trả lời cho đích-đáng cho chuyện “vun vút trời mây” đầy tình mến. Bởi nếu không, sẽ chẳng có ai lại chịu ra nhà thờ để hỏi han các đấng, rất nhiều điều này/khác.

Còn lại đây, là chuyện ngoài đời, nơi phòng mạch bác sĩ, lại cũng có những hỏi han, lan man nhiều suy tưởng khiến bà con ta cứ kể cho nhau nghe câu truyện khá tàn tàn, như sau:

– Dạ thưa bác sĩ, bệnh của em không đến nỗi tệ, đôi lúc cứ như giả vờ ấy, nhưng sao em vẫn không yên tâm. Thú thật với bác sĩ, tối tối khi lên giường ngủ, em luôn có cảm giác như có đứa nào đó tìm cách chui dưới gầm giường của em, làm chuyện gì đó em cũng chẳng biết…. Nghĩ thế nên, em bèn…

– Thế, sau đó thì sao?

– Thì sao ấy à? Thì, em lại phải ra khỏi giường ngồi thụp xuống ngó vào đó xem có ma nào ẩn núp ở đó không … Thấy chẳng có ma mãnh nào hết, nên em bèn leo lên giường lại… cứ thế chuyện này kéo dài suốt cả đêm. Vậy, hôm nay em nhờ bác sĩ xem có thể làm gì để chấm dứt chuyện ấy không!…

– Thôi được… có thể đây là ám ảnh gì đó thôi… để tôi coi xem nào… Tôi nghĩ, có lẽ mỗi tháng cũng nên bỏ ra ít là ba buổi chẩn đoán trong suốt bốn năm trời mới triệt được căn bệnh… Mỗi buổi khám tốn ít nhất 60 Eurô, tức: mỗi tháng mất 180 eurô, một năm tốn 2,160 eu rô và tổng cộng chừng 8,640 eurô là triệt nòi căn bệnh thôi…

– Bác sĩ để em tính xem có bõ công trả số tiền ấy không đã nhé…

Sáu tháng sau, bác sĩ tâm thần gặp lại bệnh-nhân bèn hỏi:

– Sao mãi không thấy trở lại cho tôi tái khám gì hết vậy?  

– Dạ, em cứ tính toán mãi  là… nếu đưa cho bác sĩ chữa, em phải tốn hết 8,640 eurô… trong khi anh chàng giao bánh pizza đã lo cho em chỉ mất có 30 eurô thôi…

– Anh chàng giao bánh pizza chữa được bệnh này mà chỉ mất có 30 eurô thôi sao? Hắn ta làm cách nào mà hay thế?

– Dạ. Anh ta khuyên em cưa cái chân giường đi là xong… Và, em đã làm thế đấy… Cảm ơn Bác sĩ đã quan-tâm hỏi han…” (Truyện kể do bạn bè gửi qua điện thư, mới đây thôi.)

Vâng. Kể truyện chữa trị này nọ trên thực tế ngoài đời hay trong Đạo, chỉ như thế. Tức có nghĩa, với người thời nay, thì tính toán sao cho vừa túi tiền, thì mọi chuyện cũng đều có thể giải quyết được hết, chí ít là chuyện đạo/đời, ở đâu đó.

Chuyện ở đâu đó, cũng vẫn là chuyện phiếm kể lại cho mọi người nghe chỉ để mua vui cũng được một vài phút giây phù du, chóng vánh, chốn nợ đời.

Chuyện đời hay chuyện nhà Đạo, có lẽ và có thể chỉ như thế, hoặc hơn thế cũng không sao. Miễn là, có đấng bậc “cao tay ấn” giải-quyết là xong ngay.

Nghĩ lại, mới thấy mọi chuyện đều đã được báo trước ở đâu đó, như chuyện đạo được bậc thánh-hiền từng nói về tình thân thương giữa mọi người, rằng:

“Tôi cảm tạ Thiên Chúa của tôi, mỗi lần nhớ đến anh chị em.
Tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh chị em hết thảy,
vì từ buổi đầu cho đến nay,
anh chị em đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng.
Tôi tin chắc rằng:
Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh chị em một công việc tốt lành như thế,
cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành
cho đến ngày Đức Kitô Giêsu quang lâm.
Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh chị em,
đó là điều hợp lý,
bởi vì tôi mang anh chị em trong lòng tôi…
Khi tôi bị xiềng xích, cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng,
anh chị em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được.
Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh chị em tất cả,
với tình thương của Đức Kitô Giêsu.”
(Thư Phillíphê 1: 3-11)

Chung vui hiệp lòng thương mến như thế, là sống thực Nước Trời ở mọi nơi. Cả trong cõi đời đầy chuyện, hôm nay nữa. Thế đó, là những giòng phiếm luận và phiếm “loạn” vào buổi rỗi rảnh, hôm nay và sau này. Mỗi thế thôi.

Trần Ngọc Mười Hai
Vào những  giờ phút
chỉ muốn hợp lòng tri ân
hết mọi người.
Ở đời.

Morgane Madi: ‘Cô âm nhạc’ của thánh lễ Đức Giáo hoàng

cath.ch, Grégory Roth, 2018-06-19

Morgane Madi-Droxler là trưởng ca đoàn thánh lễ Đức Phanxicô cử hành ngày 21 tháng 6 ở trung tâm Palexpo. Gặp gỡ bà mẹ trẻ ba mươi, người lấy âm nhạc và đức tin làm nguồn sống cho đời mình.

Cô sẽ làm gì ngày 21 tháng 6 – 2018 này? Ba tháng trước đây cô Morgane Madi sẽ trả lời: “Đó là ngày Lễ hội âm nhạc hàng năm!” Vậy mà cuối tháng ba, một cuộc gọi đã làm thay đổi chương trình của cô: “Tôi vừa dạy xong lớp học cuối cùng. Tôi đang còn ở trong lớp thì điện thoại reo. Đức Giám mục Alain de Raemy ở đường dây bên kia”. “Cô có rãnh ngày 21 tháng 6 không?”  “Dạ thưa không, con đã hứa chơi đàn ô-boa ở Lausanne cho ngày Lễ hội âm nhạc”. “Nhưng con có biết ngày hôm đó là ngày gì ở trung tâm Palexpo không?” Cô Morgane thú thật: “Con thật sự không biết ạ!”  Giám mục Raemy là giám mục phụ tá của giáo phận Lausanne, Geneva và Fribourg.

Tụ họp ca đoàn các bạn trẻ

Cuộc gọi cho cô biết, Đức Phanxicô sẽ đến Geneva và ngài sẽ dâng thánh lễ ở đây. Nhưng cuộc gọi cốt để nhờ cô phải “thành lập“ một ca đoàn trẻ và điều khiển ca đoàn trong dịp này. Nhưng tại sao cô được chọn? Morgane không biết làm sao trả lời. “Có thể vì tài năng âm nhạc của tôi và tôi quen biết mạng lưới các ca sĩ Công Giáo vùng nói tiếng Pháp chăng”.

Công việc đầu tiên của cô là liên lạc với các ca sĩ. Ban tổ chức muốn thành lập một ca đoàn gồm các thanh niên trẻ, hát hay và quen hát lễ. Cô cho biết: “Tin tức cứ thay đổi tuần này qua tuần kia. Mới đầu là gom cho được 30 ca sĩ. Sau đó thì có thể lên trên 40. Cuối cùng là ấn định 40 vì sức chứa của bục ở đó chỉ đủ chỗ cho 40 người”.  Nhưng vấn đề là cô Morgane phải nhận quá nhiều ca sĩ xin vào ca đoàn: “Tôi phải thú thật, đến một lúc tôi đâm sợ: Làm sao quản lý hết chừng này người? Làm sao đừng làm buồn lòng người không được nhận vào ca đoàn? Khó nhất là phải chọn ca sĩ, phải biết chắc là họ hát hay và hát vững”. Tổng cộng, thánh lễ sẽ có 40 ca sĩ và 10 nhạc sĩ. Tất cả đều làm thiện nguyện.

Lên chương trình

Phải lên chương trình “trẻ” tương hợp với cử tọa. Phải có những bài quen thuộc như Laude Dominum của Taizé và phải theo chỉ thị của Vatican: “Chẳng hạn Vatican muốn các bài hát ‘bình thường’ bằng tiếng la-tinh các bài Kyrie, Alleluia, Sanctus và Agnus Dei, còn tôi, tôi muốn các bài dễ hát để cử tọa cùng hát theo”. Cuối cùng tôi chọn các bài hát của Thánh lễ Thánh Boniface. Vì tất cả đến đồng ý, thánh lễ này không phải là buổi hòa nhạc và cử tọa được mời cùng hát chung.

Một đời sống với âm nhạc và trong đức tin

Cô Morgane sinh năm 1987 ở Droxler. Là chị cả của một gia đình có năm người con, cô nhận giáo dục Công Giáo. Từ khi còn nhỏ, đức tin đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của cô. Cô có năng khiếu âm nhạc từ nhỏ, năm lên 7, cô đã học đàn ô-boa. Song song với thời gian này, cô học triết lý, lịch sử và thần học.

… Bây giờ Đức Phanxicô đến, cô lo phần âm nhạc, dù công việc rất nhiều nhưng cô cho biết, đây là một vinh dự vô cùng được điều khiển ca đoàn gồm các người trẻ đến từ vùng nói tiếng Pháp của nước Thụy Sĩ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tân linh mục Johannes de Habsbourg-Lorraine, hoàng gia Áo sẽ đồng tế với Đức Phanxicô trong thánh lễ tại trung tâm Palexpo, Geneva

Linh mục Didier Berthod và Johannes d’Autriche trong ngày chịu chức.

 fr.aleteia, Vianney de Villaret, 2018-06-18

Tân linh mục Johannes de Habsbourg-Lorraine vừa được chịu chức ngày thứ bảy 16 tháng 6 – 2018, cha thuộc dòng dõi của hoàng gia Áo.

Lễ chịu chức của tân linh mục Johannes de Habsbourg-Lorraine được tổ chức ở Cộng đoàn Huynh đệ Thánh Thể Eucharistein, một cộng đoàn có ơn gọi trong việc chầu Thánh Thể và đón nhận những người gặp khó khăn trong cuộc sống như nghiện ngập, ma túy, trầm cảm…v.v., các tu sĩ trong cộng đoàn khấn đức khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời.

Ông bà cố của tân linh mục là nhà vua Charles, cháu của hoàng đế François-Joseph và nữ hoàng Zita de Habsbourg-Lorraine, là tấm gương của cha. Chân phước Charles d’Autriche đã được phong chân phước năm 2004 và án phong chân phước cho nữ hoàng Zita đã được mở ra năm 2008.

Tân linh mục Johannes sinh năm 1981 ở Bruxelles, nước Bỉ. Cha xuất thân từ một gia đình có sáu người con trai và hai người con gái. Từ khi còn nhỏ, đời sống đức tin của ông bà cố đã tác động trên cha rất mạnh, cha chia sẻ trên trang Facebook của Cộng đoàn: “Tôi cực kỳ xúc động trước tấm lòng yêu dân và nhất là yêu người nghèo, một đức ái phát xuất từ đức tin sâu đậm của các ông bà cố thân yêu của tôi”.

Trước đây người thanh niên trẻ làm việc trong một “ngân hàng thương mại lớn của Mỹ”, hứa hẹn một tương lai rạng rỡ nhưng nhanh chóng, cha cảm thấy một sự trống rỗng trong tâm hồn. Vì thế, năm 2005 cha quyết định đến Viện Philanthropos. Tại đây, trong một thánh lễ, cha đã bị chất vấn đến tận sâu thẳm lòng mình. “Tình yêu đích thực là có thật” và đó chính Chúa Giêsu, cha thổ lộ: “Chúa đích thân đến để nói với tôi những chuyện này, nhưng không phải nói với cái đầu của tôi mà nói với quả tim của tôi…”. Trước buổi lễ, cha nói chuyện với báo Công giáo Thụy Sĩ, cha cho biết, trong một trao đổi với cô em gái Marie-des-Neiges của mình, cô đã làm sáng tỏ mọi sự trong đầu cha. Cô nói: “Anh hãy xin Chúa Giêsu đến trong quả tim anh”. Cô em của cha khi 17 tuổi đã có một cuộc gặp gỡ riêng với Chúa Giêsu.

Vài năm sau, cha cảm nhận có tiếng gọi của Chúa Kitô gọi cha làm linh mục. Năm 2011, cha khấn tạm. Ngày thứ bảy 16 tháng 6 – 2018, Đức Giám mục Dominique Rey, giám mục giáo phận Fréjus-Toulon đã phong chức cho tân linh mục Johannes de Habsbourg-Lorraine.

Gia đình hoàng gia rất sốt sắng, hình ảnh trong thánh lễ chịu chức của tân linh mục Johannes de Habsbourg-Lorraine.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Thánh lễ của Đức Giáo hoàng: Trung tâm Palexpo mặc tuyền trắng

cath.ch, Bernard Hallet, 2018-06-20 

Trang hoàng cho thánh lễ của Đức Phanxicô ngày 21 tháng 6 tại Trung tâm Palexpo đã sẵn sàng. © Berrnard Hallet

Thiết kế dụng cụ và trang hoàng cho thánh lễ tại Trung tâm Palexpo mang nét thanh lịch màu trang nhã. Một mong ước bà Felicita Marockinaite mong thực hiện được, bà là người được giao nhiệm vụ trang hoàng cho nhà thờ “chớp nhoáng” của chiều ngày 21 tháng 6.

Bà Felicita Marockinaite, trưởng ban kiến trúc tổ chức thánh lễ ngày 21 tháng 6 mong qua cách trang hoàng này làm nổi bật nghi thức công giáo và nhân cách của Đức Phanxicô. Quyết định cho chuyến đi Geneva của Đức Giáo hoàng là vào tháng 2, nhưng cuối tháng 3 mới chính thức hóa, đến đầu tháng 4 vẫn còn mơ hồ. Chương trình cụ thể chỉ bắt đầu vào ngày 15 tháng 4 qua lần gặp gỡ đầu tiên với ê-kíp của Tòa Thánh. Như thế ban tổ chức chỉ có 2 tháng để lên chương trình với tất cả phần kỹ thuật đi kèm. Không có thì giờ để tưởng tượng các trang hoàng cầu kỳ cho bàn thờ và “nhà thờ” của một buổi chiều!

Các đòi hỏi từng milimét

Bà Felicita Marockinaite cho biết: “Vatican cung cấp thiết kế cơ bản với các mệnh lệnh chính xác từng milimét: kích thước bàn thờ, bục giảng, ghế của giáo hoàng, khoảng cách giữa các ghế-bàn với nhau và hai bên bàn thờ”. Mỗi dụng cụ có một chỗ chính xác ở trọng tâm của một diện tích rộng 960 mét vuông. “Vấn đề mỹ thuật nhưng cũng là thuận tiện: các khoảng cách phải đủ rộng để dễ dàng di chuyển trong thánh lễ”.

Bàn thờ dài 3 mét, cao 1 mét và ngang cũng 1 mét. Ghế của giáo hoàng theo tiêu chuẩn của Tòa Thánh, có phần tựa cao 1 mét 50, bục giảng cao 1 mét 40 và bề ngang chỉ được 60cm. Kích thước hợp lý để đáp ứng tiêu chuẩn thấy rõ, nhất là khi thánh lễ được truyền hình để chiếu trên các màn hình khổng lồ.

Bà Felicita Marockinaite, trưởng ban kiến trúc tổ chức thánh lễ ngày 21 tháng 6 tại Trung tâm  Palexpo (GE) | © B. Hallet

Các dụng cụ bàn ghế làm bằng gỗ sơn mài trắng. Các vật dụng trang hoàng cũng mang màu sắc trang nhã. Cây thánh giá trên bục giảng giống cây thánh giá của Đức Phanxicô và bàn thờ mang dấu hiệu Dòng Tên “IHS“ (Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc), dấu hiệu quen thuộc chúng ta thấy trên huy hiệu giáo hoàng. Tất cả đều làm bằng sơn mài màu vàng.

Tự do thiết kế

Phần còn lại, bà Felicita Marockinaite được tự do thiết kế. Bà lấy cảm hứng từ sách Sáng thế để các màu sắc mang biểu tượng tự nhiên. Một tấm thảm lót màu xanh da trời là biểu tượng của nước. Bên mặt bàn thờ là cây ô-liu biểu tượng của vườn Giết-sê-ma-ni và của thiên đàng bị đánh mất. Các cây ô-liu thật ở hai bên bục. “Đất được tượng trưng qua núi non, với cảnh trí tuyết phủ trên núi và người xem thấy núi Mont Blanc. Dự án… chạy qua chạy về Geneva và Tòa Thánh: “Chỉ một vài sắp xếp, tất cả các đề nghị của chúng tôi được Vatican chấp nhận ngay. Tòa Thánh rất yêu thích công việc của chúng tôi”.

Màu trắng và các màu trang nhã nổi bật trong phần trang trí. Chọn lựa này tránh cảnh trí nặng nề. Bà Felicita cho biết, trung tâm triển lãm Palexpo là một trung tâm rất lớn và như thế việc trang hoàng cũng phải rất lớn: 170 mét chiều rộng, 18 mét chiều cao, bà cho biết: “Tôi không muốn có một cái gì mang tính cách cá nhân quá, cũng không muốn quá sặc sỡ. Giáo dân sẽ cảm thấy một cái gì nhẹ nhàng với màu trắng và màu trang nhã”. Bà mong phần trang hoàng này giúp giáo dân dễ sâu lắng, đây không phải là buổi trình diễn.

Tuy bà chịu trách nhiệm chính nhưng bà luôn lắng nghe các lời đề nghị, bà không ngần ngại hỏi ý kiến của các bạn đồng nghiệp ở văn phòng kiến trúc nơi bà làm việc. 

Một bàn thờ vô giá

Ông Pierre-Vincent Erbeia, thợ mộc làm bàn thờ, bục giảng và ghế giáo hoàng cho biết: “Khi mình muốn giúp thì mình phải làm!”  Ông tình nguyện giúp. Không thể nào nói được giá cả của bàn thờ, càng làm thì càng biết bàn thờ là vô giá, có người tặng vật dụng, có người bớt giá.

Sau thánh lễ, ông sẽ tặng bàn thờ cho cộng đoàn Huynh đệ Thánh Thể. Về phần mình, cộng đoàn tặng khăn bàn thờ. Cộng đoàn sẽ dùng bàn thờ này cho nhà nguyện các người trẻ của trường công giáo ở Chablais đang được dự trù.

Cây thánh giá bằng ánh sáng

Còn cây thánh giá? Cây thánh giá sẽ không ở bên cạnh bàn thờ nhưng khéo léo treo che giấu trong ánh sáng trên tường, tượng trưng cho lễ Phục Sinh và ánh sáng của sống lại. Một khái niệm tinh tuyền của tạo dựng, ánh sáng che phủ mọi bóng tối.

Ánh sáng tỏa từ cây thánh giá bao phủ cả sảnh Palexpo cho thánh lễ của giáo hoàng. | © Bernard Hallet

Ngoài phần an ninh là bà Felicita… không phụ trách, ngoài ra bà đảm nhiệm hết tất cả phần kỹ thuật của thánh lễ. Bà cho biết: “Tôi lo phần âm thanh, ánh sáng, kiến trúc cho buổi lễ. Công việc bao gồm việc phân phối 27 khu vực làm sao để mọi người di chuyển được dễ dàng”. Ngoài ra còn phải có phòng thánh, có văn phòng cho các ký giả đến làm việc trong dịp này, phải phối hợp với các nhóm truyền hình để họ làm việc trong các điều kiện tốt nhất.

Chương trình làm việc được bổ túc dần dần theo tiến trình, phải có nơi dành cho người bệnh, người khuyết tật, họ được ở đàng trước. “Chúng tôi ráp như ráp lego!”

Bà Felicita hãnh diện được làm công việc này dù rất mệt mỏi, đêm ngủ thì rất ngắn và điện thoại reo thì không ngừng: “Hai tháng cho các công việc này thì quá ngắn! Đôi khi tôi ngừng lại để suy nghĩ, tôi cố hình dung làm sao chúng tôi thực hiện được dự án này với các nhóm làm việc của hội đồng! Tổ chức thánh lễ cho giáo hoàng… một đời chỉ một lần!”  Bà muốn giữ bình tĩnh để làm việc: công việc là trên hết! “Tôi sẽ thưởng thức thành quả này vào cuối ngày 21 tháng 6”.

Cảnh bên bờ hồ Léman cho thánh lễ ở Palexpo | © Bernard Hallet

Cây thánh giá bao phủ sãnh Palexpo cho thánh lễ của giáo hoàng | © Bernard Hallet

 

 Bức khảm sẽ được Đức Phanxicô làm phép | © Bernard Hallet

Cảnh núi Mont Blanc cho thánh lễ ở Palexpo. | © Bernard Hallet

Marta An Nguyễn dịch

Giáo phận Mỹ Tho khai mạc Năm Thánh tôn vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 19.06.2018

Giáo phận Mỹ Tho khai mạc Năm Thánh tôn vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 19.06.2018

 

Nhà thờ Cồn Én, Chợ Mới, GP Long Xuyên

NguoiAnGiang

Cồn Én thuộc ấp Tấn Long (xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), cách sông Tiền gần 2km, lại nằm sát ranh huyện Thanh Bình (tỉnh Đồng Tháp). Hiện tại, đường sá khá khang trang, chiếc cầu Phú Mỹ nối liền Cồn Phước thẳng ra quốc lộ 30 huyện Thanh Bình Đồng Tháp. Đò đưa khách vượt sông Tiền qua Cù Lao Giêng có thể chở cả xe ôtô 16 chỗ.

Vùng đất nầy có tên gọi cồn Én, vì từ xưa đây là một vạt đất bãi bồi do con sông Tiền tạo nên, nước thượng nguồn quanh năm đổ xuống cặp hai bên cồn, tạo thành 2 doi đất chạy dài tựa như cánh chim én, nên người dân đặt cho tên gọi cồn Én.

Nhà thờ Cồn Én trực thuộc Giáo phận Long Xuyên. Trong và trước khuôn viên là nhà trẻ, thư viện, trường mẫu giáo… Hiện tại giáo xứ Cồn Én do các Cha dòng Phanxicô phụ trách.

* Cồn Én là một họ đạo truyền giáo, giáo dân chỉ là một thiểu số nhỏ (25%) giữa đa số lương dân thuộc Cao Đài, Hoà Hảo, Phật Giáo…
* Một họ đạo đang cố gắng có mặt trong các lãnh vực xã hội của địa phương: Giáo dục, y tế, môi trường, kinh tế…

Nhà thờ Cồn Én

Từ trong nhìn ra cổng

Nhà thờ Cồn Én

Đất Thánh bên hông nhà thờ

Khá khang trang

Khoảng sân trước bên trái nhà thờ

Khoảng sân trước bên phải nhà thờ

Thư viện giáo xứ Cồn Én trong khuôn viên nhà thờ

Khu vực sân chơi cho thiếu nhi trong khuôn viên nhà thờ

Ngôi nhà sàn gỗ nhỏ nhỏ xinh xắn. Nhà sàn đặc trưng của vùng nước nổi.

Bến đò Tấn Long phía Cồn Én

Cồn Én

Sông Tiền

Bến đò Tấn Long Cồn Én

Đò đưa khách vượt sông Tiền

Phía xa là Cù Lao Giêng

Đò vắng khách

Người xứ cù lao lướt web trên con đò lướt sóng Tiền Giang

Bến đò Tấn Long phía Cù Lao Giêng

 

NguoiAnGiang