Bà xã | Chuyện phiếm Gã Siêu

Tiếng Việt Nam của chúng ta thật là tuyệt vời để diễn đạt những “gam”, những mức độ tình cảm đậm nhạt khác nhau. Khi mới bắt đầu thương, anh chàng luôn mồm gọi chị chàng với cặp môi dẻo quẹo: Em yêu! Người tình bé! Con mèo nhỏ! Khi bước vào cuộc sống lứa đôi và tình yêu còn nồng như rượu nếp mới và còn thơm như mật ong rừng, thì anh chồng luôn trìu mến gọi chị vợ với giọng nói ngọt như đường cát, mát như đường phèn: Em! Mình! Cưng! Mẹ thằng cu! Đằng ấy! Rồi hùng hổ giới thiệu  vị “nội tướng” của mình với bà con lối xóm bằng những danh từ thật bùi tai, còn hơn cả đậu phộng rang, chẳng hạn như: Nhà tôi! Bà xã! Nếu là dân ghiền cải lương, thì anh chồng không ngần ngại ca sáu câu vọng cổ có mùi bắt đầu bằng những chữ: Hiền thê ơi! Ái khanh lòng ta hỡi! Nhưng khi tình yêu đã bị xuống cấp, nhất là trong những lúc nóng nảy, thượng cẳng chân hạ cẳng tay mí nhau, thì anh chồng không ngần ngại tuôn ra những lời “hàng tôm hàng cá” để mà phang chị vợ một trận tơi bời hoa lá: Cái con mẹ mày! Cái con mụ kia! Cái bà chằng lửa! Từ những kinh nghiệm đời thường ấy mà có kẻ đã hung hăng phát biểu: Trong đời anh đờn ông có hai ngày vui. Ngày vui thứ nhất đó là ngày lấy vợ. Còn ngày vui thứ hai đó là ngày vợ chết!

Chuyện kể rằng: Có một anh đờn ông chẳng may qua đời, mon men đến cửa thiên đàng. Ông thánh Phêrô thấy vậy bèn chặn lại và lên tiếng hỏi: Ngươi đã làm được những gì để xứng đáng bước vào chốn hạnh phúc muôn đời? Anh đờn ông gãi đầu gãi tai. Xem ra trong cuộc nơi sống trần gian anh ta đã chẳng làm được việc gì cho ra ngô ra khoai, cho nên trò nên trống, cho nên cơm nên cháo. Sau một hồi suy nghĩ và xét mình, cuối cùng anh ta mới rụt rè thưa lên: Bẩm thánh cả, con có vợ ạ. Ông thánh Phêrô bèn đưa bàn tay vuốt chòm râu bạc, rồi gật đầu ra dáng thông cảm: Thôi được. Ta rất hiểu ngươi. Nào, ngươi hãy lẹ lẹ bước vào thiên đàng ngay đi.

Qua câu trả lời trên, có lẽ ông thánh Phêrô đã nhìn thấy rất rõ những khó khăn, những gánh nặng và những bế tắc của những anh đờn ông có vợ. Biết đâu chừng đó cũng chính là những khó khăn, những gánh nặng, những bế tắc của bản thân ông thánh khi nhìn về dĩ vãng xa xưa của mình. Còn gã, gã cũng xin ăn theo mà chia sẻ và mổ xẻ cái nỗi buồn của những anh đờn ông có vợ.

Người Việt Nam hiện nay thường được nghe đến độ mòn cả lỗ tai và thuộc lòng câu nói sau đây: Không có gì quí hơn độc lập và tự do. Khi còn là “giai tơ”, anh đờn ông lúc nào cũng có được cái kho tàng quí giá ấy là sự tự do. Anh ta muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, muốn nhậu lúc nào thì nhậu. Thế nhưng khi đã đèo bồng cái “rờ mọc”, thì liền mất toi cái kho tàng ấy, vì phải đổi đời và thoát xác. Có những anh chàng thưở trước thuộc hạng “phá gia chi tử”, đã quậy thì phải quậy tới bờ tới bến, đã nhậu thì phải nhậu cho xỉn, vì không xỉn không về, đã chơi thì phải chơi xả láng sáng về sớm, thế mà khi lập gia đình thì bỗng trở nên nghiêm túc, chí thú làm ăn, có lẽ vì nghĩ tới trách nhiệm của mình ở phía trước. Bởi đó, khi đứng trước những “con ngựa chứng”, nhiều cụ đã khuyên: Cứ lấy vợ cho nó là xong tuốt luốt. Chỉ có con vợ mới trị được nó mà thôi. Và thế là nỗi buồn cứ len lén đi vào tâm can tì phế, ám vào lục phủ ngũ tạng của anh đờn ông, hay như một bài hát đã diễn tả: Buồn vào hồn không tên. Để rồi anh đờn ông cứ thở dài thườn thượt mà rằng: Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu. Chính vì vậy, các cụ ta ngày xưa cũng đã phát biểu: Một là vợ, hai là…nợ. Hay: Trai có vợ như dợ buộc chân. Còn người Pháp, vốn mang giòng máu “ga lăng” thì đã diễn tả một cách hoa hòe hoa sói hơn: Nếu em là trại giam, thì anh sẽ là thằng tù. Thế mà cũng có lúc đã phải chua chát: Đờn bà vừa là niềm vui lại vừa là tai họa cho đờn ông. Đờn bà vừa là nữ thần lại vừa là sói cái của đờn ông.

Có những người nhờ vợ mà nổi đình nổi đám, nên cơ đồ nên sự nghiệp: Giàu vì bạn sang vì vợ. Nhưng cũng có những người vì vợ mà tiêu tán đường, mất cả chì lẫn chài, mất cả vốn lẫn lãi. Vì thế người xưa đã cho rằng:  Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ hai nhà dột, thứ ba rựa cùn. Sống trên đời, anh đờn ông con giai nào cũng cảm thấy có ba cái bực. Thế nhưng, cái bực vào hạng nhất đó chính là vợ dại, bởi vì nhà dột thì hắn có thể lợp lại, rựa cùn thì hắn có thể mài lại, hay bỏ một nơi, quẳng một xó, chứ còn vợ dại thì vẫn cứ phải chấp nhận, vẫn cứ phải sống chung hòa bình, vẫn cứ phải đeo đẳng bên mình có khi còn dài hơn cả một đời, bởi vì đờn ông thường “ngỏm củ tỉ” trước đờn bà, và tuổi thọ của anh chồng thường vắn hơn chị vợ. Vậy đâu là những cái nơi chị vợ thường làm cho anh chồng phải bực, phải tức như bị bò đá mà vẫn cứ phải cắn răng chịu vậy?  Nếu bới lông tìm vết, sợi tóc chẻ làm mười, thì hẳn sẽ tìm thấy nhiều tính mê nết xấu nơi đờn bà con gái. Và nếu viết hết về những thói hư ấy thì chắc chắn gã sẽ bị lây cái thói “rậm nhời” tức là thói nói nhiều của “phe mình”. Vì vậy, phe ta chỉ xin đề cập qua quít một vài chuyện lỉnh kỉnh của phe mình mà thôi.

Trước hết đó là chuyện nói năng.

Tìm được một chị vợ vừa niềm nở tươi tắn lại vừa kín miệng trong lời nói qủa là một sự khó, bởi vì nói dài, nói dẻo, nói dai, nói day, nói dứt, nói gian, nói dối…vốn là nghề của các nường. Có những chị vợ thường xuyên càu nhàu với anh chồng. Chúng ta thử tưởng tượng xem một anh chồng làm công chức. Ở sở thì bị bề trên trù dập, bề ngang ganh tị và bề dưới bướng bỉnh. Về tới nhà những ước mong được nhìn thấy khuôn mặt dễ thương với những lời nói êm dịu của chị vợ, rồi được nghe thấy những tiếng cười trong trẻo đầy vô tư của con cái, để quên đi những mệt mỏi, những buồn tủi và tìm lấy niềm phấn khởi để tiếp tục cuộc dành dựt chén cơm manh áo. Thế mà cái mong ước thật nhỏ nhoi, thật tầm thường này cũng chẳng có được. Bởi vì hễ thò mặt vào nhà là y như rằng chị vợ bèn càu nhàu: Sao anh thua người ta thế này, sao anh thua người ta thế ki. Người ta kiếm tiền như nước, đem về cho vợ cho con. Còn anh thì lại vô tài bất tướng. Thật khốn nạn cho cái thân tôi. Không hiểu kiếp trước tôi vụng dại thế nào, mà kiếp này lỡ vớ phải một ông chồng cù lần cù lèo như anh. Ngay cả những lúc thân mật nhất, chị vợ cũng vẫn sẵn sàng rót vào tai anh chồng những lời nói chua như chanh và cay như ớt hiểm. Ngồi vào bàn ăn mà mặt mày cứ sụ xuống như bánh bao chiều hay lầm lầm lì lì làm thành một đống. Trong tình huống như vậy, làm sao anh chồng có thể chịu đựng cho thấu. Nhất là mỗi khi có chuyện bất đồng hay có điều chi xích mích, mà sự sai lỗi lại nằm trên phần đất của anh chồng, thì chị vợ liền xả ga, nói cho bằng thích : nói xiên nói xẹo, nói xỉa nói xóc. Lải nhải ngày cũng như đêm, bất cứ lúc nào chị vợ cũng như làu bàu trong miệng một điều gì ấm ức và bực bội. Tới nước này, thì anh chồng chỉ có hai cách giải quyết: Một là yên lặng bỏ nhà ra đi dăm bảy tiếng đồng hồ hay đôi ba ngày, hai là tức nước vỡ bờ, liền nổi máu yêng hùng thượng cẳng chân hạ cẳng tay, cho “cái con mẹ mày một trận” để mà câm miệng lại. Cả hai cách thức giải quyết trên đều bất lợi cho cá nhân và gia đình. Vì vậy nhiều chị vợ đã đấu tranh bằng những độc chiêu sau đây:

Độc chiêu thứ nhất là nước mắt.

Mỗi khi có một yêu cầu nào đó mà xem ra anh chồng còn chần chừ, lừ khừ không muốn dứt điểm và xem ra như muốn ngâm kíu thêm, rồi ngâm tôm luôn, thì chị vợ thường hay vật mình vật mẩy rồi nhỏ ra dăm ba giọt nước mắt. Về cái khoản muớc mắt thì xem ra phe mình không bao giờ thiếu. Nếu gã là tay “thợ thơ” thì chắc chắn sẽ phệu ra được một bài ca tụng đôi mắt em là như một hồ chứa đầy nước, có thể tuôn chảy bất kỳ lúc nào.  Nếu chẳng may hồ bị bể đập, nước đổ xuống gây nên cơn lũ, cuốn phăng đi mọi sự. Cũng vậy, một khi nước mắt chị vợ đã vãi ra, thì cũng sẽ làm tan mất cái dũng khí đờn ông, khiến cho anh chồng hóa nên mềm nhũn như con chi chi. Bảo cái gì cũng ừ. Nói cái gì cũng gật. Bởi vì chỉ còn là: Chìu thôi…chìu thôi. Suy gẫm về những giọt nước mắt của đờn bà con gái, người La mã thời xưa đã phải ngán ngẩm mà thốt lên rằng: Nước mắt của đờn bà thường ẩn chứa những âm mưu toan tính. Còn dân Ăng lê thì bảo: Trên đời này không có gì mau khô cho bằng nước mắt đờn bà. Mưa ban sáng và nước mắt đờn bà thì chẳng mấy chốc mà ráo.

Độc chiêu thứ hai đó bất hợp tác

Nhờ độc chiêu này mà Gandhi đã dành được độc lập cho dân tộc An Độ. Trong phạm vi gia đình, chị vợ bất hợp  tác bằng cách không nói không rằng, không cười không hỏi, không làm không lụng, thậm chí cả đến lúc leo lên giường cũng không thèm quay mặt ra, mà chỉ “tôi nhìn tôi trên vách”. Đến cái nước này thì thử hỏi bố anh chồng nào chịu nổi. Có một chị vợ kia đã hiên ngang và anh dũng tuyên bố với anh chồng của mình như sau: Liệu anh có thể chịu đựng nổi sự lạnh lùng của tôi không thì bảo? Và thế là anh chồng bèn phải xuống ngựa làm một màn năn nỉ ỉ ôi, suýt gẫy cả lưỡi, để rồi yêu sách nào cũng giải quyết, đòi hỏi nào cũng thỏa mãn. Và anh chồng ấy đã vuốt chòm râu lún phún và nhủ thầm: Mình nhịn vợ mình chứ có nhịn vợ thiên hạ đâu mà sợ.

Tiếp đến là chuyện tiền nong và chi tiêu.

Chúng ta thường bảo: Có thực mới vực được đạo. Tiền bạc tuy là của phù vân giả trá, nhưng lại rất cần thiết để bảo đảm cho một cuộc sống được ấm no và hạnh phúc. Hơn thế nữa, người xưa cũng thường bảo: Lấy vàng nhử đờn bà, lấy đờn bà nhử đờn ông và lấy đờn ông để làm ra vàng. Phần đông đờn bà con gái đều thích vàng, thích hột soàn, nói chung là thích tiền: Có ăn thiếp ở cùng chàng, không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui. Theo gã nghĩ: Tiền bạc là do công lao vất vả, mồ hôi nước mắt của mọi người, nên nó phải được tiêu dùng chung, nhằm bảo đảm những tiện nghi tối thiểu, chứ không được phép tiêu xài hoang phí cho riêng mình. Trong hầu hết các gia đình, thì chị vợ thường được trao cho chân thủ quĩ để quản lý tiền bạc chi tiêu. Đang lúc anh chồng lo quần quật làm lụng đem tiền về cho gia đình, thì chị vợ sẽ lo quán xuyến, nên phải biết chi tiêu cho hợp tình và hợp lý. Với chức vụ thủ quĩ và quản lý, các chị vợ thường  mắc phải hai thái cực sau đây.

Thái cực thứ nhất đó là quá hà tiện và keo kiệt, mặc dù không đến độ vắt cù chày ra nước, rán sành ra mỡ, đãi cứt sáo lấy hạt đa, đãi cứt gà mót hạt tấm, nhưng rất sẻn so trong việc chi tiêu, ngay cả những chi tiêu chính đáng, chẳng hạn như không dám mua thức ăn, nên chi bữa nào cũng chỉ là cà ghém mắm tôm và canh cua rau đay…rồi thì lại canh cua rau đay, mắm tôm và cà ghém. Thái cực thứ hai đó là quá hoang phí, theo kiểu con nhà lính tính nhà quan, bóc ngắn cắn dài, nghèo mà lại thích xài sang. Lương tháng anh chồng ba cọc ba đồng, thế mà chị vợ ở nhà lại vung tay quá trán, nên suốt đời mang công mắc nợ. Từ chỗ thiếu hụt, chẳng bao lâu sẽ dẫn tới chỗ xào xáo lẫn nhau và gia đình cũng đi đoong luôn.

Trước hết là hoang phí cho việc may mặc

Nay bộ này, mai bộ khác. Hôm thì uốn cái đầu, hôm thì mua cái bóp, ấy là chưa kể tới son phấn cùng muôn vàn sự lỉnh kỉnh khác nữa. Ở nhà lắm lúc hạt cơm không có để mà bỏ vào bụng, những ra đường thì cứ như bà hoàng bà chúa. Dĩ nhiên gã không chối cãi: Đờn bà con gái cần phải làm đẹp vì làm đẹp cũng là một phương thế, một nghệ thuật để giữ lấy anh chồng và làm cho gia đình được ấm cúng. Gã thấy có những chị vợ khi đã được một hai nhóc tì là bắt đầu cẩu thả trong việc ăn mặc. Cứ thử tưởng tượng xem anh chồng đi làm mệt nhoài, về tới nhà thì liền nhìn thấy chị vợ lem luốc, đầu bù tóc rối, còn con cái thì bẩn thỉu, thò lò mũi xanh. Rất có thể chỉ vì sự cẩu thả này, mà anh chồng đi tìm những an ủi, thoải mái nơi người khác sạch sẽ, tươm tấp và thơm tho hơn. Tuy nhiên, làm đẹp không có nghĩa là làm đỏm, xa xỉ và chạy theo thời trang. Nghệ thuật làm đẹp mà chị vợ cần phải nắm chắc và thực hiện, đó là đói cho sạch, rách cho thơm.

Thứ đến là hoang phí cho việc ăn uống

Nếu mua để cho mọi người cùng xài thì không sao, nhưng mua để cho mình xài riêng lại là chuyện khác. Một trong những thói quen, đôi khi cũng hơi dễ thương một tí, mà đờn bà con gái thường thích mắc phải đó là cái thói ăn hàng, xơi quà vặt. Có những cô nàng, nhất là phe nữ sinh kẹp tóc, đã hăng tiết vịt mà phát ngôn: Là con gái mà không ăn quà vặt thì không phải là con gái nữa. Đi chợ mà không ghé hàng quà, thì dân buôn bán sẽ chết hết:  Đi chợ mất tám tiền quà, chồng thương, chồng bảo về nhà đỡ cơm. Có chị vợ không thèm ăn quà vặt, mà lợi dụng mỗi khi chồng vắng là mẹ mẹ con con xúm xít bày tiệc tùng bánh trái để xơi cho khoái khầu, cũng như để tập tành nữ công gia chánh con gái.

Sau cùng là hoang phí cho bài bạc, đỏ đen

Trong khi các anh chồng tới nhà máy hay công sở, thì các chị vợ ở nhà, tụm năm tụm ba, dở bài cào tứ sắc, hay số đề số đuôi. Thua thì nhiều, mà được chẳng bao nhiêu. Nếu có được thì cũng đãi đằng. Tiền chưa kịp nóng tay, thì đã vội bay hơi lúc nào không biết. Những hoang phí trong việc chi tiêu như thế, chắc chắn sẽ tạo nên một lỗ hổng, mà anh chồng, suốt đời làm thân trâu ngựa, cũng không thể lấp đầy cho nổi.

Trong phạm vi tiền bạc cũng còn có một sự lợm cợm khác nữa. Đó là hiện nay vì hoàn cảnh đổi thay, tại nhiều gia đình, ở Việt Nam và nhất là ở phương tây, chị vợ cũng phải chen chân ra ngoài xã hội, kiếm thêm phần thu nhập, từ đó phát sinh ra những tình huống dở cười dở khóc. Nếu chị vợ gặt hái được những thành công, tiền lương có phần trội hơn anh chồng, thì phần thắng sẽ thuộc về người nắm được nguồn kinh tế và tài chánh. Và nếu chẳng may, anh chồng lâm vào cảnh thất nghiệp thì bèn phải cúi đầu xuống như muông chim  và trật tự trong  gia đình sẽ bị đảo lộn: Làm trai rửa bát quét nhà, vợ gọi thì dạ, bẩm bà em đây. Còn nếu như thu nhập đồng đều, thì tiền ai người ấy tiêu. Anh chồng có một tài khoản trong ngân hàng và chị vợ cũng có một tài khoản khác. Có được tài khoản trong tay, chị vợ bèn ngước mặt lên, quắc mắt nhìn đời, cảm thấy như mình được giải phóng và bình đẳng với anh chồng vì không còn bị lệ thuộc vào kinh tế và tài chánh nữa.

Từ chỗ bình quyền, chị vợ chỉ cần nhảy thêm một tí nữa là sẽ tót ngay lên chỗ lộng quyền cái một. Chỉ tội nghiệp cho con cái khi cần tiền, chẳng biết ngửa tay xin ai. Anh chồng hì hục kéo cày và chị vợ cũng hì hục kéo cày. Con cái không còn được chăm sóc. Gia đình biến thành quán trọ. Gặp nhau thoáng chốc rồi đường ai người ấy đi, việc ai người ấy làm. Thậm chí có người đã nhận xét: Ông một nhà, bà một nhà, con cái có hai nhà những lại chẳng có được một mái ấm yêu thương.

Để kết luận, gã xin chuộc tội bằng cách ghi lại một vài thơ vui mà gã đã thuổng được ở một tờ báo. Bài thơ mang tựa đề là Vợ:

Vợ là tình cảm sâu xa,
Vợ là gió mát, vợ là bão giông.
Vợ như một đóa hoa hồng,
Vợ là sư tử Hà đông kinh người…
Thiệc tình!!!

CHIA SẺ