Café đenQuán ven đường

Bánh Mì Sáng | Thứ Bảy 04.10 | Thánh Phanxicô Assisi, tu sĩ

Thứ Bảy đầu tháng | Mùa Thường Niên | Phụng vụ năm C

Thánh Phanxicô Assisi | 04.10.2023

Thánh Phanxicô thành Assisi (tiếng Ý: Francesco d’Assisi; 26.9.1181 – 3.10.1226), còn gọi là Thánh Phanxicô Khó khăn, là một tu sĩ Công giáo Rôma và người sáng lập Dòng Anh Em Hèn Mọn (Order of Friars Minor), được biết đến nhiều hơn với tên Dòng Phan Sinh. Giáo hội Công giáo xem ông là thánh bổn mạng loài vật, chim trời, môi trường, và nước Ý. Ngày 4.10 hằng năm là ngày lễ kính Thánh Phanxicô.

Thiếu thời

Phanxicô (Francis) là con trai của Pietro di Bernadone, một doanh nhân thành đạt, và Pica Bourlemont. Người ta không biết nhiều về người mẹ ngoại trừ quê quán của bà là nước Pháp. Hai người có bảy người con, Francis chào đời khi người cha đang ở Pháp, mẹ ông cho con chịu lễ rửa tội với tên Gionanni di Bernadone, theo tên của Gioan Baotixita, với mong ước con trai của bà sẽ lớn lên trở thành một nhân vật tôn giáo. Khi trở về Assisi, người cha hết sức tức giận vì ông không muốn con mình trở nên người của giáo hội. Pietro gọi con theo một tên khác, Francesco (một hình dung từ trong tiếng Ý nghĩa là “thuộc về Pháp”, ngụ ý sự thành công của ông trên thương trường, và lòng đam mê của ông dành cho mọi sự thuộc về nước Pháp.

Đề kháng lại nghề nghiệp kinh doanh cũng như khát vọng giàu sang của người cha, cậu bé bộc lộ nỗi đam mê dành cho sách vở (cần nên biết chính nhờ tiền bạc của người cha giàu có mà Francis được hưởng một nền giáo dục ưu tú, nhờ đó cậu thành thạo trong kỹ năng đọc một số ngôn ngữ, trong đó có tiếng Latin). Francis nổi tiếng trong vòng bạn bè nhờ tửu lượng cao và giao du rộng, đa phần là với con cái của giới quý tộc. Ngay từ những ngày này, Francis đã tỏ ra thất vọng đối với thế giới cậu đang sống, thể hiện qua cách xử sự của công tử Francis khi gặp một người hành khất. Vào một ngày, lúc đang vui chơi trác táng với bạn bè, một người hành khất tìm đến nài xin của bố thí, trong khi mọi người không hề quan tâm đến tiếng kêu la của người ăn mày, Francis dốc hết túi của mình cho người ấy. Bạn bè xúm lại chế giễu, và khi về nhà, cậu lại hứng chịu cơn thịnh nộ của người cha vì nghĩa cử này.

Năm 1201, Francis gia nhập đội quân viễn chinh đến Perugia, bị bắt giữ làm tù binh trong một năm tại Collestrada. Có lẽ trải nghiệm tâm linh đã đến với Francis trong thời gian này. Sau khi trở về Assisi trong năm 1203, Francis buông mình trở lại cuộc sống phóng túng. Nhưng đến năm 1204, một cơn bạo bệnh đánh động tâm hồn của Francis và dẫn cậu vào một cuộc khủng hoảng tâm linh. Năm 1205, Francis rời bỏ Perugia để gia nhập đạo quân của Gualtiero di Brienne. Trên đường đi, tại Spoleto, một khải tượng lạ lùng đã khiến Francis quay trở lại Assisi và nhấn chìm cậu sâu hơn trong cuộc khủng hoảng tâm linh.

Người ta kể lại rằng khi cố từ chối những trò giải trí và những buổi hội hè đình đám với bạn bè, những người này trêu chọc Francis và hỏi có phải cậu sắp kết hôn không, câu trả lời là “phải, với một cô dâu đẹp hơn bất cứ người phụ nữ nào mà các cậu từng gặp” – Francis ngụ ý “sự nghèo khó” (lady poverty), một thuật từ mà ông thường sử dụng sau này. Francis dành nhiều thời gian sống trong cô độc, nài xin sự soi dẫn từ Thiên Chúa. Dần dà, Francis tìm đến chăm sóc những người mắc bệnh phong, căn bệnh bị xã hội thời ấy xa lánh, đang sống trong những trại phong gần nhà. Khi hành hương đến La Mã, Francis ngồi bên cửa các nhà thờ để hành khất cho những người nghèo.

Cha của Franics, Pietro, trong cơn giận dữ cố làm cho con trai tỉnh trí, trước tiên bằng những lời dọa nạt rồi đến sự trừng phạt thể xác. Sau cùng, trước sự hiện diện của một Giám mục, Francis từ bỏ quyền làm con của Pietro cũng như từ bỏ quyền thừa kế của mình. Trong hai tháng kế tiếp, Francis đi hành khất trong vùng Assisi. Khi trở lại thị trấn, Francis bắt tay vào việc phục hồi các ngôi nhà thờ đổ nát, trong đó có Porziuncola, ngôi nhà nguyện nhỏ bé trong khuôn viên Đại Giáo đường Đức Bà Các Thiên Thần, ngay bên ngoài thị trấn, sau này trở thành nơi ở ông ưa thích.

Thành lập Dòng Anh Em Hèn Mọn

Vào cuối giai đoạn này (theo Jordanus là ngày 24.2.1209), một bài thuyết giáo đã thay đổi cuộc đời của Phanxicô. Nội dung bài giảng tập chú vào Phúc âm Matthew 10:9, thuật lại lời của Chúa Giê-su bảo các môn đồ chớ đem theo mình tiền bạc, ngay cả gậy hoặc giày khi họ đi ra rao giảng phúc âm. Từ sự soi dẫn này, Phanxicô hoàn toàn cung hiến mình cho cuộc sống nghèo khó.

Mặc áo vải thô, đi chân đất, và theo giáo huấn của Chúa Giê-su ký thuật trong các sách phúc âm, không đem theo gậy hoặc túi xách, Phanxicô khởi sự rao giảng thông điệp ăn năn. Môn đệ đầu tiên đến với Phanxicô là Bernado di Quintavalle, một luật gia tên tuổi trong thành phố. Rồi những người khác tìm đến, trong vòng một năm Phanxicô có được mười một môn đệ. Phanxicô quyết định không tìm kiếm chức vụ linh mục, và quy định cộng đồng của ông sống trong tình huynh đệ, vì vậy có tên “fratres minors” nghĩa là “những anh em hèn mọn”.

Cộng đồng theo đuổi nếp sống đạm bạc trong một trại phong bị bỏ hoang tại Rivo Torto gần Assisi; dành nhiều thời gian dong ruổi đến các ngôi làng trong vùng đồi núi Umbria, thể hiện tinh thần lạc quan và thường ca hát, tạo ấn tượng sâu đậm trên người nghe bằng những lời khuyên giải chân tình.

Năm 1209, Phanxicô cùng 11 môn đệ đầu tiên tìm đến La Mã để xin Giáo hoàng Innocent III cho phép thành lập một dòng tu mới. Họ gặp Giám mục Guido thành Assisi đang đi cùng Hồng y đẳng Giám mục Sabina là Giovanni di San Paolo. Vị Hồng y có thiện cảm ngay khi gặp Phanxicô, và đồng ý tiến cử ông gặp Giáo hoàng. Hôm sau, Giáo hoàng Innocent miễn cưỡng tiếp Phanxicô và các môn đệ. Sau vài ngày, Giáo hoàng chuẩn thuận, Phanxicô được phong chức phó tế, và được phép đọc Phúc âm trong nhà thờ.

Từ đó, dòng tu mới của Phanxicô phát triển nhanh chóng. Ngày 8.5.1213, Bá tước Orlando di Chiusi ban tặng Phanxicô Núi La Verna. Ngọn núi này là một trong những địa điểm ẩn cư Phanxicô thường đến để cầu nguyện. Trong năm ấy, Phanxicô đi thuyền đến Maroc nhưng bệnh tật buộc ông phải bỏ dỡ cuộc hành trình và quay về Tây Ban Nha. Sau khi trở lại Assisi, một vài nhà quý tộc (trong đó có Tommasco da Celano, người viết tiểu sử Phanxicô) và một số nhà trí thức tìm đến gia nhập dòng tu.

Ngày 29.11.1223, bản nội qui của dòng tu (12 chương) được chuẩn thuận bởi Giáo hoàng Honorius III.

Ngày 14.9.1224, theo tự thuật, từ một khải tượng đặc biệt Phanxicô nhận lãnh và mang trên mình các dấu nhục hình của Chúa Giê-su khi ngài bị treo trên thập tự giá. Theo lời thuật của Sư huynh Leo, người có mặt vào thời điểm ấy, “Đột nhiên ông nhìn thấy một seraph, thiên thần có sáu cánh trên một cây thập tự. Thiên thần này ban cho ông năm vết thương của Chúa Ki-tô.”[13] Mặc dù có những tra vấn về tính xác thực của chúng, hiện tượng này trong trải nghiệm Phanxicô thuật lại được giáo hội chấp nhận.

Bị đau mắt, và có lẽ do sự đau đớn bởi các dấu nhục hình, Phanxicô được đưa đến chữa trị tại một vài thành phố (Siena, Cortona, Nocera) nhưng không hiệu quả. Cuối cùng ông quay về Porziuncola, ngụ trong một transito, túp lều dành cho các tu sĩ già yếu, kế cận Porziuncola. Cảm nhận được sự cuối cùng đã gần kề, Phanxicô dành thì giờ thuật lại những trải nghiệm tâm linh của mình. Ông từ trần vào chiều tối ngày 3.10.1226 khi đang ngâm nga Thánh Vịnh 141. Ngày lễ của ông cử hành ngày 4 tháng 10 hằng năm.

Phanxicô được Giáo hoàng Grêgôriô IX tuyên thánh ngày 16.7.1228. Grêgôriô IX chính là Hồng y Ugolino di Conti, một người bạn và là người bảo trợ của Thánh Phanxicô. Hôm sau, Giáo hoàng đặt viên đá đầu tiên xây dựng Giáo đường Thánh Phanxicô tại Assisi.

Các nhà phê bình văn học xem Thánh Phanxicô là nhà thơ đầu tiên của nước Ý. Phanxicô tin rằng giáo dân nên cầu nguyện với Thiên Chúa bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Những trước tác của ông được viết bằng phương ngữ Umbria thay vì tiếng Latin, chúng được xem là những tác phẩm lớn cả trong lĩnh vực văn học và tôn giáo. Tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của ông là bài Kinh Hòa Bình, bài kinh được hàng triệu Kitô hữu cất lên khi cầu nguyện cho hòa bình nhân loại trong suốt hàng trăm năm qua.

(https://vi.wikipedia.org/wiki/Phanxicô_thành_Assisi)

Mời nghe các bài đọc trong thánh lễ hôm nay:
(Martha đọc)

Nghe Bài đọc Tại đây
(NamMinh từ Luvvoice đọc)

Bài đọc 1  Br 4,5-12.27-29
Đấng đã giáng hoạ xuống các con, chính Người sẽ ban cho các con niềm vui.

Bài trích sách ngôn sứ Ba-rúc.
Can đảm lên nào, hỡi dân Ta !
Hỡi những kẻ mang danh Ít-ra-en !
Các ngươi có bị bán cho dân ngoại,
không phải là để bị diệt vong.
Các ngươi có bị trao cho quân thù
âu cũng vì đã chọc giận Thiên Chúa.
Quả thật, khi tế lễ cho ma quỷ thay vì cho Thiên Chúa,
các ngươi đã khiêu khích Đấng tạo dựng nên mình.
Thiên Chúa vĩnh cửu, Đấng nuôi dưỡng các ngươi,
các ngươi đành quên lãng ;
còn Giê-ru-sa-lem, mẹ sinh thành các ngươi,
các ngươi làm cho mẹ phải buồn sầu ;
buồn vì chứng kiến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa
giáng xuống trên đoàn con, và mẹ đã than thở :
Hãy nghe đây, các thành lân cận của Xi-on,
Thiên Chúa đã giáng xuống trên tôi một nỗi buồn thê thảm.
Vì tôi đã thấy cảnh lưu đày
Đấng Vĩnh Hằng giáng xuống trên con trai con gái của tôi.
Xưa tôi vui mừng nuôi dưỡng chúng,
nay đành phải buồn sầu ứa lệ để cho chúng ra đi.
Chớ ai vui mừng vì thấy tôi goá bụa, bị mọi người bỏ rơi ;
tôi phải sống đơn độc như thế này
chỉ vì con cái tôi phạm tội, lìa bỏ Lề Luật của Thiên Chúa :
Các con ơi, can đảm lên nào !
Hãy cứ kêu lên cùng Thiên Chúa,
vì Đấng đã giáng hoạ sẽ lại nhớ đến các con.
Xưa các con chỉ nghĩ đến chuyện xa lìa Thiên Chúa,
thì một khi trở về,
các con phải nỗ lực gấp mười mà tìm kiếm Chúa.
Vì Đấng đã giáng hoạ xuống các con,
chính Người sẽ giải thoát
mà ban cho các con niềm vui vĩnh cửu.

Nghe bài Tin Mừng Tại đây
(Martha đọc)

Tin Mừng   Lc 10,17-24
Hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
Khi ấy, Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.” Đức Giê-su bảo các ông : “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.” Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng : “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy ! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết : nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Ecoutez la lecture ici
Personne ne connaît qui est le Fils, sinon le Père ; et personne ne connaît qui est le Père, sinon le Fils et celui à qui le Fils veut le révéler. » Puis il se tourna vers ses disciples et leur dit en particulier : « Heureux les yeux qui voient ce que vous voyez ! Car, je vous le déclare : beaucoup de prophètes et de rois ont voulu voir ce que vous-mêmes voyez, et ne l’ont pas vu, entendre ce que vous entendez, et ne l’ont pas entendu. »  (Lc 10, 17-24)

Bài liên quan

Back to top button