Cù Lao Tây, ngày…tháng…, năm
Có những bài học đầu đời quý giá không hề được truyền dạy trong những căn phòng học truyền thống, không được trình bày trên tấm bảng đen viết đầy phấn trắng, và cũng chẳng có bóng dáng người thầy giáo nghiêm nghị cầm thước đứng trên bục giảng. Những bài học thực tế ấy thường diễn ra một cách tự nhiên ngay ngoài cánh đồng bao la, dưới những bến nước thân thuộc, trên những bờ đất lấm lem bùn đất, và hòa lẫn trong tiếng cười đùa vang dội của đám trẻ con thôn quê mộc mạc. Đối với riêng cá nhân tôi, một trong những kỷ niệm sâu sắc và đáng nhớ nhất chính là bài học tập lội (bơi) đầu tiên ngay dưới dòng sông quê hiền hòa tại vùng Tân Quới, thuộc dải đất Cù Lao Tây, tỉnh Đồng Tháp của những ngày xa xưa ấy. Dòng sông Tiền mênh mang chảy qua vùng đất cù lao quê tôi ngày đó không chỉ mang theo lượng phù sa màu mỡ bồi đắp cho những vườn cây ăn trái xum xuê, mà còn là linh hồn, là sân chơi vô tận của lũ trẻ con trong xóm. Ngày ấy, biết bơi không chỉ là một kỹ năng, mà gần như là một điều kiện sinh tồn tất yếu để hòa nhập với đời sống sông nước.
Tôi vẫn còn nhớ như in cái cảm giác háo hức xen lẫn chút sợ hãi khi lần đầu tiên được các anh lớn dẫn ra bến sông sau nhà. Nắng chiều vàng vọt đổ xuống mặt nước, lấp lánh như có hàng ngàn mảnh gương vỡ đang trôi xuôi, còn tiếng sóng vỗ rì rào vào những gốc cây bần, cây mắm như đang cất lời vẫy gọi.Kỷ niệm đẹp nhất có lẽ là những buổi nước lớn đầy sông, nước dâng đầy tràn bờ cỏ. Cả nhóm trẻ con chúng tôi thi nhau nhảy từ trên cầu tre xuống sông, tạo thành những tiếng “tõm”, “ùm” vang động cả một vùng không gian yên bình. Dưới làn nước mát lạnh, nỗi lo sợ ban đầu dần tan biến, nhường chỗ cho cảm giác tự do tuyệt đối khi cơ thể được thả lỏng và điều khiển theo ý muốn. Bến sông Hiền khi ấy thực sự giống như một người mẹ hiền từ, bao bọc và che chở cho những tâm hồn trẻ thơ ngây ngô, dạy cho chúng tôi bài học đầu tiên về sự can đảm và niềm tin vào khả năng của chính mình giữa thiên nhiên bao la.Ngày ấy, sông không chỉ là sông.
Sông là con đường giao thông thủy độc lập và huyết mạch, là lối đi thân thuộc đưa dẫn những chuyến hành trình của con người về mọi ngả đường đất nước. Sông là nơi giặt giũ quần áo, là nơi tắm mát của dân làng sau những giờ lao động vất vả, cũng là nguồn nước ngọt dồi dào mà người ta vẫn thường lấy về để phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày. Sông là chốn tấp nập những chiếc ghe xuồng ngược xuôi qua lại, chở nặng sản vật và tình người của vùng đất phù sa màu mỡ. Sông cũng chính là bến đậu bình yên, là điểm tựa vững chãi nhất của đời sống những miền quê nghèo còn nhiều lo toan, khó nhọc. Và đặc biệt với đám trẻ con hồn nhiên chúng tôi, dòng sông ấy còn là một sân chơi thiên nhiên lớn nhất, rộng mở nhất, mát mẻ nhất và ẩn chứa nhiều niềm vui bất tận nhất. Cả quãng đời tuổi thơ của chúng tôi như được chính dòng sông hiền hòa này ẵm bồng trong vòng tay, được sóng nước vỗ về, được những dòng chảy xô đẩy và lặng lẽ dạy dỗ cho bao bài học về thiên nhiên, cuộc sống. Ai đã từng sinh ra và lớn lên ở miền sông nước trù phú này mà không có ít nhất một lần vô tình uống phải ngụm nước sông, bị sặc nước đến đỏ gay mặt mày, ho sù sụ từng cơn rồi sau đó lại nhìn nhau cười vang nắc nẻ? Ai đã trưởng thành bên những bến quê mộc mạc mà trong ký ức lại không giữ lấy một buổi trưa hè đầy nắng, khi bỗng nghe tiếng bạn bè í ới rủ rê vang lên đầu ngõ: “Đi tắm sông hôn?”
Tôi vẫn nhớ hoài một kỷ niệm khó quên khi cùng các anh tôi và nhóm bạn thân thiết trong xóm tụ tập ùm xuống sông tập bơi. Buổi trưa hôm ấy, bầu trời cao vời vợi với cái nắng chói chang, gay gắt đặc trưng của vùng sông nước. Cái nắng miền Tây rực rỡ và nồng hậu ấy đổ tràn xuống những mái nhà lá đơn sơ, len lỏi qua từng kẽ lá trong vườn cây xanh mướt, phủ vàng con đường đất quanh co và làm mặt sông quê hương trở nên lấp loáng như dát bạc. Trong khi người lớn thường tìm đến những giấc ngủ trưa yên tĩnh để tránh nóng, thì đám con nít chúng tôi lại chẳng bao giờ chịu ngồi yên một chỗ. Chỉ cần nghe thấy tiếng một đứa nào đó ngoài ngõ cất lời gọi “ê tắm không mậy, nước lớn ời kìa!” là cả bọn lập tức rộn ràng, háo hức chẳng khác nào đàn chim sẻ nhỏ vừa gặp được mùa lúa chín vàng đồng. Đứa thì nhanh tay cởi phăng chiếc áo vắt vẻo trên vai, đứa thì chạy chân trần trên nền đất nóng hổi, có đứa còn đang nhai dở bát cơm cũng vội vàng nuốt chửng để kịp đi cùng bạn bè. Thế rồi, tất cả chúng tôi cùng nhau kéo xuống phía bến sông, tạo nên những âm thanh ồn ào, náo nhiệt làm xôn xao cả một khúc sông hiền hòa.
Bến sông cù lao ngày đó trong tâm trí tôi luôn mang một vẻ đẹp thật dịu hiền và yên ả. Cái vẻ hiền hòa ấy không hẳn là không tiềm ẩn những hiểm nguy, bởi lẽ sông nước muôn đời vẫn luôn ẩn chứa những luồng chảy sâu kín và đầy bất ngờ mà người ta khó lòng lường trước được. Thế nhưng, trong ký ức trong trẻo của những đứa trẻ thơ chúng tôi, dòng sông ấy hiện lên thật gần gũi với bãi bồi trải dài, có những chỗ nước nông nhìn rõ tận đáy và bờ đất thoai thoải dốc. Có những đoạn sông mà dòng nước mát lành chỉ khẽ khàng đưa bọn trẻ chúng tôi ra xa cách bờ chừng vài thước, rồi lại dịu dàng vỗ về như một người mẹ hiền đang nhẹ tay tập cho đứa con thân yêu biết cách rời khỏi vòng tay ấm áp của mình để tự mình khám phá thế giới.
Vào mùa ấy, những dải bãi bồi ven sông lộ ra nhiều hơn bao giờ hết, khoác lên mình một lớp phù sa màu mỡ. Lớp bùn non dưới chân mỗi khi bước lên cảm thấy thật mềm mại, mát rượi và trơn láng, mang lại một cảm giác thích thú đến lạ kỳ. Dưới lòng sông, độ sâu thay đổi dần theo từng bước chân: có chỗ khi mới bước xuống nước chỉ vừa chạm tới đầu gối, đi thêm chút nữa nước đã lên tới bụng, rồi dần dần dâng cao đến ngang ngực. Những đứa trẻ vốn đã bơi lội thành thạo thì cứ thế tự tin phóng ra xa hơn, thi nhau đập nước tung tóe làm vang động cả một góc sông yên bình. Ngược lại, những đứa chưa biết bơi và còn nhát nước như tôi thì chỉ dám đứng quẩn quanh gần sát bờ, trong lòng vừa dâng lên nỗi khao khát được ra xa vẫy vùng cùng bạn bè, lại vừa cảm thấy sợ hãi trước sự mênh mông của dòng nước.Nỗi sợ hãi của một đứa trẻ chưa biết bơi thực sự là một cảm giác vô cùng kỳ lạ và đầy mâu thuẫn. Khi còn đứng an toàn trên bờ, tôi thường tỏ ra rất hùng hổ, miệng không ngừng nói những lời mạnh mẽ như một người lớn thực thụ: “Mấy cái này có gì đâu mà phải sợ, mậy!” Thế nhưng, ngay khoảnh khắc ngâm mình trong dòng nước, chỉ cần mực nước dâng lên chạm đến ngang ngực và đôi chân không còn cảm giác được sự bám trụ chắc chắn dưới lớp bùn mềm, là lồng ngực tôi bắt đầu run rẩy, tim đập thình thịch liên hồi. Đứng từ xa nhìn mấy anh của tôi và đám bạn cùng lứa đang thỏa sức bơi lội, tự do lặn hụp dưới lòng sông, trong lòng tôi trào dâng một cảm giác vừa ngưỡng mộ sâu sắc lại vừa xen lẫn chút ganh tị trẻ con. Đối với tôi lúc đó, chúng nó thực sự giống như những chú cá linh hoạt đang đùa giỡn với sóng nước; còn bản thân tôi, chỉ cần vừa buông tay khỏi mặt bờ đất một chút thôi là đã lập tức thấy dòng nước trước mặt rộng ra mênh mông đến choáng ngợp. Con sông quen thuộc ngay trước mắt bỗng chốc không còn là một sân chơi thanh bình nữa, mà nó dường như trở thành một thế giới khác đầy bí ẩn và quyền năng, vừa tỏa ra sức hút kỳ ảo mời gọi mình bước tới khám phá, lại vừa ẩn chứa những điều vô định khiến mình chỉ muốn lùi bước để tìm lại sự an toàn.
Chúng bạn thấy vậy thì cười. Tiếng cười của mấy đứa còn trong tuổi thơ lúc nào cũng có chút trêu chọc, chút thương, chút làm bộ ta đây. Mấy anh tôi nói: “Ra đây, tụi tao tập cho. Sợ gì!” Tôi nghe vậy nhưng vẫn đứng chần chừ. Một anh nắm tay kéo ra. Nước dâng lên tới cổ. Tôi hoảng, bấu chặt lấy tay anh, chân quơ quạng dưới bùn. Mấy đứa bạn đứng gần đó cười vang. Đứa này nói: “Đạp chân đi!” Đứa kia la: “Quạt tay lên!” Một đứa khác làm mẫu, úp mặt xuống nước rồi đập tay đập chân như con vịt con mới xuống ao.
Tập bơi, với trẻ con quê, không có bài bản gì cao xa. Không ai nói về kỹ thuật thở, kỹ thuật nổi, kỹ thuật sải tay. Người biết bơi thì chỉ nói gọn: “Nằm xuống nước. Đừng sợ. Đạp chân. Quạt tay.” Nghe thì dễ, làm thì khó. Tôi vừa nằm xuống nước là người cứng đơ. Chân đạp loạn xạ, tay vung lên như đánh nhau với dòng sông. Nước bắn vào mặt, vào mũi, vào miệng. Tôi uống một ngụm nước sông, rồi sặc. Cổ họng cay, mũi xót, mắt đỏ hoe. Tôi ho sù sụ, bám lấy anh, miệng la: “Thôi, thôi, con không tập nữa!”
Nhưng đám trẻ con đâu dễ để yên. Một khi đã xuống bến, đã bị lôi vào cuộc tập bơi, thì không có chuyện bỏ ngang. Mấy anh tôi lại động viên, mà cũng hơi hù: “Không biết bơi thì sau này quê lắm nghen!” Đám bạn thì cười hì hì: “Uống nước vài lần là biết bơi hà!” Nghe vậy tôi vừa tức vừa mắc cười. Tôi không muốn bị chê quê, nhất là ở giữa đám bạn trong xóm. Thế là lại cắn răng tập tiếp.
Dòng sông ngày ấy như kiên nhẫn với chúng tôi. Nó cho tôi uống nước, cho tôi sặc, cho tôi ho, nhưng cũng nâng tôi lên từng chút. Ban đầu tôi chỉ dám bơi một quãng rất ngắn, từ tay anh này sang tay anh kia. Khoảng cách chỉ vài bước chân người lớn, nhưng với tôi là cả một hành trình. Tôi úp mặt xuống nước, đạp chân, quạt tay, tim đập liên hồi. Khi chạm được tay anh bên kia, tôi mừng như vừa vượt qua một đại dương. Mấy đứa bạn vỗ nước reo lên. Có đứa chọc: “Thấy chưa, chưa chìm!” Tôi vừa thở vừa cười, nước còn chảy từ tóc xuống mặt. Sợ sợ mà vui.
Bọn con nít tắm sông trưa ồn ào lắm. Cả một khúc sông vang tiếng la hét, tiếng cười, tiếng nước vỗ, tiếng đứa này gọi đứa kia. Chúng tôi chẳng biết giữ ý tứ gì. Đứa nhảy ùm xuống làm nước bắn tung tóe. Đứa lặn rồi bất ngờ trồi lên sau lưng bạn. Đứa vốc nước tạt nhau. Đứa chụp chân người khác kéo xuống. Cái bến sông vốn là nơi người lớn giặt đồ, lấy nước, rửa rau, bỗng thành một cái chợ nhỏ của tiếng cười trẻ con.
Vì vậy, không ít lần chúng tôi bị la.
Mấy bà, mấy chị hay ra giặt đồ dưới bến mà gặp bọn tôi đang quậy thì khổ sở. Áo quần vừa nhúng xuống chưa kịp vò, nước đã bị đạp đục ngầu. Mấy bà tức quá la: “Trời đất ơi, tụi bây tắm gì mà quậy muốn nát cái sông! Người ta giặt đồ sao được!” Có bà giơ cái áo ướt lên, mặt nhăn lại, mắng: “Đi ra xa xa cho người ta giặt coi!” Nhưng bọn trẻ con chúng tôi nghe la thì chỉ dạt ra một chút, rồi lát sau lại quậy tiếp. Cái vui của tuổi thơ nhiều khi vô tư đến mức làm phiền người khác mà chưa biết.
Có những gia đình nhà ở xa bến sông không có nước trong, phải ra sông lấy nước về dùng. Họ xách thùng, chở xe đẩy mấy cái lu con con đi lấy nước về nhà để uống, để vo gạo, giặt quần giặt áo. Gặp lúc chúng tôi đang tắm, đang đạp nước, đang lặn hụp, nước quanh bến đục lên như ai mới khuấy bùn thì cũng đành khoanh tay tặc lưỡi. Thế là lại có tiếng chửi te tát: “Tụi bây con cái nhà ai mà phá làng phá xóm quá trời! Người ta lấy nước mà tụi bây quậy vậy sao lấy!” Có người vừa la làng vừa xua tay đuổi chúng tôi đi chỗ khác. Bọn tôi có khi sợ, bơi dạt ra xa. Có khi vừa dạt ra vừa cười khúc khích, vì cái tuổi ấy chưa hiểu hết nỗi cực của người lớn khi phải giữ từng thùng nước sạch, trong lành trong cho gia đình.
Bây giờ mỗi khi có dịp ngồi nhớ lại chuyện cũ, lòng tôi lại trào dâng niềm thương cảm sâu sắc dành cho cả hai phía. Tôi thương đám trẻ con nhà nghèo nơi làng quê thiếu thốn đủ bề, vốn dĩ chẳng có lấy một khu vui chơi hiện đại nào khác ngoài dòng sông hiền hòa làm nơi vẫy vùng, đùa nghịch. Và tôi cũng thương vô hạn những người bà, người mẹ cùng những gia đình quê nghèo lam lũ, dù giữa trưa nắng gắt cháy da cháy thịt vẫn phải miệt mài ngồi bên bờ sông giặt giũ quần áo, gánh nước sinh hoạt, tỉ mẩn lo toan từng công việc nhỏ nhặt nhất cho gia đình mình. Một khúc sông nhỏ hẹp ngày ấy dường như đã bao trọn và chứa đựng tất thảy mọi hoạt động sinh hoạt hằng ngày của cả ngôi làng: kia là đám trẻ con đang tập bơi lội hăng say, nọ là các bà các mẹ đang vò áo giặt giũ, đằng xa là người lớn đang múc nước, cùng với đó là cảnh xuồng ghe tấp nập qua lại ngược xuôi, hòa lẫn trong tiếng rầy la nghiêm khắc, tiếng cười đùa giòn giã, tiếng mái chèo khua nước nhịp nhàng và cả tiếng sóng nước vỗ về vào bờ cát. Dòng sông ấy từ xưa đến nay vốn dĩ không thuộc về quyền sở hữu riêng của bất kỳ cá nhân nào, mà sông thực sự là tài sản chung vô giá của cả xóm nhỏ. Và cũng chính vì là tiếng lòng chung của cả cộng đồng, nó đã âm thầm lưu giữ, bao bọc hết thảy những niềm vui, nỗi buồn, những sự phiền hà nhỏ nhặt lẫn những tình cảm thân thương ruột rà của cả một đời sống quê nghèo khó nhưng đong đầy tình nghĩa.Trong những chuyện tập bơi ngày ấy, tôi nhớ nhất là chuyện “ cho con chuồn chuồn cắn rún (rốn) là mầy biết lội à”. Nó ngây ngô và nghịch làm sao!
Không biết đứa nào bày ra trước, nhưng tụi con nít trong xóm truyền nhau rằng: ai chưa biết lội, cứ để chuồn chuồn cắn rốn, cắn tay hay cắn chỗ nào đó là sẽ biết lội. Nghe thật vô lý, vậy mà hồi nhỏ chúng tôi tin dữ lắm. Trẻ con vốn sống bằng lời đồn hồn nhiên như vậy. Một con chuồn chuồn bay là là trên mặt nước, đậu trên cọng cỏ, trên nhánh cây gần bến, lập tức trở thành “ông thầy dạy bơi” bất đắc dĩ.
Mấy anh lớn bắt chuồn chuồn rất nhanh. Họ chụp đuôi hoặc cánh một cái là con chuồn chuồn nằm trong tay, đôi cánh mỏng rung rung, cái đuôi cong cong. Rồi họ đem lại gần mấy đứa chưa biết bơi. Đứa nào gan thì đưa bụng ỏng ra. Đứa nào nhát thì che tay lại kín mít, miệng nói “tao hông chịu”. Nhưng cả bọn xúm lại hò reo: “Cho nó cắn đi! Cắn là biết lội liền!” Thế là có đứa bị cắn thật. Chuồn chuồn cắn không đến nỗi nguy hiểm, nhưng cũng đau nhói. Mấy đứa con gái bị cắn la oai oái, vừa la vừa giật tay lại, mặt mếu mà cả bọn thì cười nghiêng ngả. Vậy mà cũng uống nước đã đời chớ có lội được đâu.
Tôi cũng từng tưởng thật. Đứa trẻ chưa biết lội sông mà nghe có cách biết lội nhanh thì ham lắm. Tôi đưa rún cho chuồn chuồn cắn, lúc đó vừa sợ vừa hy vọng. Khi bị cắn, tôi nhăn mặt, đau điếng, chỗ da đỏ rần lên. Đám bạn thấy vậy reo: “Rồi, biết lội rồi đó!” Tôi bán tín bán nghi, nhảy xuống nước thử. Dĩ nhiên là vẫn sặc nước như thường. Cả bọn lại cười. Nhưng lạ thay, sau cú bị chuồn chuồn cắn ấy, tôi như gan hơn một chút. Có lẽ không phải vì chuồn chuồn làm tôi biết lội, mà vì giữa tiếng cười bạn bè, tôi bớt sợ con sông hơn.
Bây giờ nhớ lại, tôi thấy thương cái niềm tin ngây thơ ấy biết bao. Trẻ con quê ngày xưa có cả một kho “tri thức” lạ lùng truyền miệng cho nhau: chuồn chuồn cắn là biết lội, nuốt hột trái cây thì cây mọc trong bụng, huýt sáo ban đêm thì rắn tới, chỉ cầu vồng thì đứt tay. Người lớn có khi nghe cũng cười, nhưng không phải lúc nào cũng giải thích. Thế giới tuổi thơ vì vậy vừa thật vừa huyền hoặc. Một con chuồn chuồn mỏng manh cũng có thể mang quyền phép. Một dòng sông cũng có thể thành người thầy. Một lời đồn vu vơ cũng đủ làm nên kỷ niệm nhớ cả đời.
Tôi không biết mình biết lội sông chính xác từ lúc nào. Có lẽ không phải sau một lần tập. Cũng không phải sau một cú chuồn chuồn cắn. Biết lội đến từ nhiều buổi trưa hè cộng lại. Từ những lần uống nước sông. Từ những lần sặc đến cay mũi. Từ những lần được anh nắm tay kéo ra rồi buông nhẹ. Từ những lần bạn bè cười chọc. Từ những lần sợ nhưng vẫn thử thêm một chút. Rồi bỗng một ngày, chân tay mình không còn đánh loạn nữa. Người biết nổi trên nước. Tay biết quạt. Chân biết đạp. Con sông không còn đáng sợ như trước. Nó vẫn rộng, vẫn sâu, nhưng mình đã biết cách ở trong lòng nó mà không chìm.
Cảm giác lần đầu tự bơi được vài thước xa bờ thật khó quên. Tôi nhớ mình vừa lội vừa nín thở, mắt nhắm tịt, tai nghe tiếng nước ù ù, có khi nghe trong nước “ọt ọt” mà ai đó bảo là “cá ông nược kêu”. Khi ngẩng lên, thấy mình đã ra xa hơn chỗ cũ, tôi vừa mừng vừa sợ. Mấy anh tôi la lên: “Được rồi! Biết lội rồi nghen mậy!” Tiếng ấy như một phần thưởng lớn. Tôi quay đầu lội trở vô bờ, chạm chân xuống bùn, đứng dậy, thở hổn hển. Không ai trao bằng cấp cho tôi, nhưng trong lòng tôi thấy mình vừa lớn thêm một chút.
Tập lội sông không chỉ là học để khỏi chìm. Đó còn là học cách tin vào thân thể mình, tin vào dòng nước, tin vào bàn tay của anh em và bạn bè. Lúc chưa biết lội, tôi chỉ thấy sông là một nỗi sợ. Khi biết lội rồi, tôi thấy sông mở ra. Bờ không còn là giới hạn duy nhất. Chỉ cần vài cái đạp chân, vài cái quạt tay, tôi có thể đi ra xa hơn, nhìn bờ từ một góc khác. Có lẽ trong đời, có nhiều điều cũng giống như vậy. Ta sợ vì chưa biết cách bước vào. Ta tưởng mình sẽ chìm. Nhưng rồi nhờ người thân, nhờ bạn bè, nhờ thử đi thử lại, nhờ cả những lần uống nước và sặc nước, ta học được cách nổi lên.
Ngày ấy, sau mỗi buổi tắm sông, chúng tôi lên bờ trong bộ dạng thảm hại mà vui. Tóc bết lại. Mắt đỏ. Da nhăn vì ngâm nước lâu. Có đứa còn dính bùn từ đầu gối tới lưng. Đứa nào bị chuồn chuồn cắn thì đem vết đỏ ra khoe như chiến tích. Đứa nào mới lội ra xa bờ được vài thước thì được cả bọn công nhận là “sắp thành cá rồi nghen”. Rồi chúng tôi ngồi trên bờ, người còn ướt, nhìn mặt sông trôi lặng lẽ. Chút lát sau, nghe tiếng má gọi về, hay nghe mấy bà la lần nữa vì còn đứng chắn chỗ giặt đồ, cả bọn mới chịu tản ra.
Có những buổi trưa như vậy tưởng rất bình thường. Vậy mà càng lớn, tôi càng thấy đó là những buổi trưa đẹp nhất đời người. Bởi ngày ấy, niềm vui không cần mua. Bài học không cần đóng tiền. Tình bạn không cần hẹn trước. Chỉ một khúc sông, một bến bồi, vài anh em, vài đứa bạn trong xóm, vài con chuồn chuồn, vài tiếng rầy la của mấy bà giặt đồ, là đủ thành một thế giới đầy ắp.
Bây giờ, tôi ước một lần được về lại bến cũ.
Không phải chỉ để tắm sông. Tuổi tác và đời sống đã khác. Có thể tôi không còn dám nhảy ùm xuống nước như xưa. Có thể con sông cũng không còn hiền như trong trí nhớ. Có thể bãi bồi ngày ấy đã lở, bến cũ đã đổi, nhà xưa đã khác, người xưa đã đi xa. Nhưng tôi vẫn ước được đứng đó một lần, trên mé bờ cũ, nhìn xuống dòng nước, nghe trong lòng mình vang lên tiếng cười của bọn trẻ ngày xưa.
Tôi muốn nhìn lại chỗ mình từng đứng run run vì chưa biết bơi. Muốn thấy lại khoảng nước các anh đã kéo tôi ra tập. Muốn nghe lại tiếng bạn bè la: “Đạp chân đi! Quạt tay đi!” Muốn nghe lại tiếng ho sặc nước của chính mình, rồi tiếng cười vang sau đó. Muốn thấy một con chuồn chuồn bay thấp trên mặt sông, đôi cánh mỏng lấp lánh trong nắng, như mang theo cả lời đồn ngây thơ rằng bị cắn là biết lội liền. Muốn nghe lại tiếng mấy bà giặt đồ la mắng, để hiểu rằng ngay cả những tiếng rầy ngày ấy cũng đã trở thành thân thương.
Có lẽ ta nhớ quê không chỉ vì những điều êm đềm. Ta nhớ cả những tiếng chửi te tát, những lời rầy la, những cú đau do chuồn chuồn cắn, những lần uống nước sông cay mũi. Bởi tất cả đều thuộc về một đời sống thật. Quê hương không phải bức tranh chỉ có màu đẹp. Quê hương có bùn, có nước đục, có nắng gắt, có tiếng mắng, có nghịch ngợm, có sợ hãi, có nước mắt trẻ con, rồi có tiếng cười làm lành tất cả.
Tôi mang trong lòng bến sông tập lội ấy như mang một miền sáng của tuổi thơ. Mỗi khi đời mỏi mệt, tôi lại nhớ dòng nước hiền hòa ngày xưa đã dạy tôi nổi lên. Mỗi khi gặp một nỗi sợ mới, tôi lại nhớ đứa trẻ run run ngoài bến, cuối cùng cũng dám buông tay anh để đạp nước một mình. Mỗi khi thấy mình đi xa quá, tôi lại nhớ khúc sông ồn ào tiếng con nít, nơi tôi từng học bài học đầu tiên về can đảm: muốn biết lội, phải có lúc chịu uống nước; muốn lớn lên, phải có lúc rời mé bờ.
Bến sông mùa tập lội ngày ấy có lẽ đã chìm vào quá khứ. Nhưng trong tôi, nó vẫn còn hiền hòa, vẫn có bãi bồi, vẫn đưa bọn trẻ ra xa vài thước cách bờ, vẫn có các anh tôi, đám bạn trong xóm, vẫn có tiếng cười làm vỡ cả buổi trưa. Và tôi, trong ký ức ấy, vẫn còn là đứa trẻ vừa sợ vừa ham, vừa ho vì sặc nước vừa cố bơi thêm một chút, để một ngày reo lên sung sướng vì mình đã biết nổi trên dòng sông quê.
Nếu có một ngày được trở lại, tôi sẽ đứng lặng bên bến cũ, không làm ồn một khúc sông như xưa nữa. Tôi sẽ chỉ cúi xuống, chạm tay vào nước, và thầm cảm ơn:
“Cảm ơn dòng sông mẹ đã dạy con biết bơi.
Cảm ơn các anh đã kéo em ra khỏi nỗi sợ.
Cảm ơn mấy bạn đã cười chọc mà làm tôi gan hơn.
Cảm ơn mấy bà giặt đồ, những người lấy nước trong bờ, với những tiếng la mắng rất đời, rất quê, đã làm cho ký ức ấy có đủ âm thanh của một xóm làng.
Và cảm ơn tuổi thơ, dù đã đi xa, vẫn còn để lại trong tôi một bến nước hiền hòa — nơi mỗi lần nhớ về, tôi lại thấy mình được dòng sông quê nâng lên, như nâng một đứa trẻ bé bỏng, vụng về, nhưng đầy niềm vui, giữa buổi trưa miền Tây nắng sáng.”
Phạm Quỳnh Anh





