Sau này, đi qua nhiều con sông, tôi vẫn hay đứng lại nhìn nước một hồi lâu. Không biết mình nhìn cái gì. Nhìn con nước trôi, hay nhìn một khúc đời đã trôi mất. Có khi chỉ là một đám lục bình dạt ngang, một tiếng mái chèo khua nhè nhẹ, một mùi bùn non thoảng lên trong nắng, vậy mà trong lòng tôi bỗng nghe như có ai gọi.
Gọi từ một bến sông rất cũ.
Bến sông ấy ở Tân Quới, Cù Lao Tây, Đồng Tháp xưa. Nói là bến, chớ hồi đó đâu có bậc xi măng, lan can, bảng cấm gì. Chỉ là một lối đất mòn do chân người đi riết mà thành. Bờ thoai thoải xuống nước, bên cạnh có mấy cây cọc cắm xiêu xiêu để cột xuồng, xa chút nữa là bụi ô rô, đám cỏ ướt và vài vạt bùn non mùa nước lớn. Mùa nào nước hiền, bến rộng ra, trẻ con chúng tôi tha hồ đứng, ngồi, nhảy ùm xuống. Mùa nào nước dữ, bờ sụp một miếng, người lớn lại lấy nhánh cây cắm làm dấu, miệng dặn hoài:
– Đi trong nghen bây, đừng có men sát mé. Đất nó bị nước ‘ăn chân’ hồi nào hổng hay, coi chừng nó sạt bất tử à.
Nhưng con nít mà. Lời người lớn nghe đó rồi gió thổi qua đó. Hễ trưa nắng, nghe nước ngoài sông vỗ lóc bóc vô bờ, là trong bụng tôi rộn lên. Cái rộn của đứa nhỏ miền sông nước không giống cái rộn nào khác. Nó làm hai chân không chịu đứng yên, làm lỗ tai cứ chờ tiếng bạn gọi ngoài ngõ:
– Ê, đi tắm sông bây ơi!
Một tiếng đó thôi là cả xóm nhỏ như bừng dậy. Đứa đang ăn cơm thì nuốt vội. Đứa còn bị má sai lặt rau thì lặt đại cho xong. Đứa nào bị biểu ngủ trưa thì nằm chừng một lát, nghe nhà im im, lén chuồn ra cửa sau. Chỉ trong chớp mắt, bến sông đang yên bỗng thành cái chợ nổi của tiếng cười. Tiếng chân chạy bình bịch trên đường đất. Tiếng áo quần quăng lên bờ. Tiếng nước văng bùm bụp. Tiếng đứa này réo đứa kia. Tiếng mấy thằng lớn làm bộ anh hùng, nhảy từ trên cầu ván xuống cái ùm, nước bắn lên trắng xóa.
Hôm đó cũng một buổi trưa như vậy.
Nắng đứng trên đầu, sáng chang chang. Mặt sông lấp lóa như có ai rải một thúng bạc vụn. Xa xa, mấy đám lục bình trôi chậm, bông tím nhỏ xíu, buồn buồn mà đẹp. Gió thổi từ sông vô mát rượi, mang theo mùi phù sa, mùi bùn, mùi cá, mùi áo quần ướt của mấy bà đang giặt bên mé nước. Tôi còn nhớ rõ, bữa đó các anh tôi quyết tập bơi cho tôi.
Tôi sanh ở xứ cù lao mà chưa biết bơi. Chuyện đó, đối với đám con nít trong xóm, gần như một cái tội. Tụi nó có thể nghèo, có thể đi chân đất, có thể rách quần, có thể ăn ổi xanh chấm muối tới nhăn mặt, nhưng không biết bơi thì bị chọc tới cùng.
Anh Hai tôi đứng dưới nước, chống hai tay ngang hông, biểu:
– Hôm nay phải bơi được nghe chưa. Ở xứ này mà hổng biết bơi, kỳ lắm.
Tôi đứng trên bờ, ngó xuống, làm bộ tỉnh:
– Từ từ rồi biết.
Anh Ba cười khì:
– Từ từ hoài. Chừng nào mới biết? Tới già hả?
Mấy đứa bạn xúm lại phụ họa. Thằng Lượm, nhỏ hơn tôi mà bơi lội như cá lòng tong, hất mặt:
– Xuống đi. Tao bơi từ đây tới cây cọc kia được nè.
Nói rồi nó chúi đầu xuống nước, đạp chân cái rẹt, bơi ra tới cây cọc. Trồi lên, nó vuốt mặt, cười toe:
– Thấy chưa?
Con nhỏ Lan đứng gần mé bờ, tóc còn cột hai chùm, vừa cười vừa nói:
– Ảnh sợ nước đó bây ơi.
Tôi quê nóng mặt.
Sợ thiệt chớ đâu phải không. Nhưng bị con gái nói sợ, lại trước mặt mấy anh, thì cái sợ trong bụng bỗng biến thành cục tức. Tôi bước xuống nước. Ban đầu nước mát, dễ chịu. Nước tới mắt cá, tới đầu gối, tới bụng. Dưới chân là bùn non mềm mềm, nhún xuống nghe mát lạnh. Nhưng càng ra thêm chút nữa, nước lên tới ngực, rồi tới cổ, tôi bắt đầu thấy lòng mình chao qua chao lại. Bờ chỉ cách vài bước, vậy mà sao thấy xa. Sông quê hồi đó hiền lắm, mùa ấy bãi bồi nhiều, nước không đẩy mạnh, chỉ đưa bọn trẻ ra xa bờ vài thước như đưa chơi. Nhưng với đứa chưa biết bơi, vài thước đó rộng như cả một vùng trời.
Anh Hai đưa tay:
– Lại đây. Tao nắm.
Tôi bám lấy tay anh.
– Đừng buông nghen.
– Biết rồi. Mầy cứ nằm ngang ra. Đạp chân. Quạt tay. Đừng có co người như con tôm luộc.
Tôi nghe lời, nhưng thân thể đâu có chịu nghe. Vừa nằm xuống nước, người tôi cứng ngắc. Tay quạt loạn xạ, chân đạp tùm lum, nước tạt vô mắt, vô mũi, vô miệng. Tôi uống một ngụm nước sông. Vị nước ngai ngái, tanh tanh mùi phù sa, xộc lên mũi cay xè. Tôi sặc, ho sù sụ.
– Thôi! Thôi! hổng tập nữa!Cả đám cười rần. Tiếng cười vang cả khúc sông.
Ở một bên bến, bà Tư đang giặt đồ. Bà nhỏ người, lúc nào cũng quấn khăn rằn trên đầu, cái miệng thì la dữ mà bụng thương con nít. Bị tụi tôi quậy nước đục ngầu, bà ngẩng lên chửi:
– Trời đất ơi, tụi bây tắm hay đánh giặc vậy? Người ta giặt đồ sao nổi!
Mấy đứa nhỏ dạt ra một chút. Dạt cho bà đỡ tức, chớ chừng bà cúi xuống vò cái áo là tụi nó lại tạt nước nhau.
Bà Tư vỗ cái áo xuống mặt nước cái đét:
– Cha mẹ ơi, cái bến gì mà trưa nào cũng bị đám con nít quậy đục nước còn hơn vịt hãng!
Ở mé trong, chú Năm xách đôi thùng thiếc ra lấy nước. Nhà chú ở sâu trong bờ, nước trong khó kiếm. Chú thấy tụi tôi làm đục một khoảnh sông thì la:
– Tụi bây tính cho cả xóm uống bùn hả? Tao lấy nước nấu cơm, mà tụi bây đạp kiểu này chắc cơm thành cháo sình quá bây!
Thằng Lượm lanh miệng:
– Ậy, sình non như sữa bột bổ đó chú Năm!
Chú Năm trợn mắt:
– Mầy lên đây tao cho ăn vọi bổ hơn!
Cả đám cười muốn té xuống nước. Bây giờ nhớ lại, tôi thương những tiếng la đó. Hồi ấy nghe chửi thì sợ, nghe rầy thì né. Sau này mới hiểu, một xóm quê nhiều khi gắn với nhau bằng chính những tiếng rầy. Bà Tư la, chú Năm chửi, mà mắt vẫn ngó chừng tụi nhỏ. Hễ đứa nào hụt chân, người lớn là người la trước, chạy trước.
Tập hoài mà tôi vẫn sợ. Anh Hai kéo tôi ra thêm chút nữa, tôi càng bấu chặt tay anh. Anh Ba đứng phía trước, dang hai tay:
– Bơi tới tao. Gần xịt hà.
Gần xịt của anh là xa lắc của tôi. Tôi nhìn khoảng nước giữa mình và anh Ba. Mặt sông rung rinh ánh nắng. Tự nhiên thấy nó sâu hun hút. Thằng Lượm bơi ngang qua, nói:
– Ê, tao biết cách làm cho mầy biết bơi liền.
Tôi hỏi:
– Cách gì?
Nó hạ giọng, làm như nói chuyện bí truyền:
– Cho chuồn chuồn cắn cuống rún.
Tôi tròn mắt.
– Thiệt hả?
– Thiệt. Hồi tao chưa biết bơi, bị chuồn chuồn cắn cái biết liền.
Không biết nó nói thiệt hay dóc, nhưng hồi nhỏ, chuyện gì nghe lạ lạ là tin. Tụi con nít miền quê có cả một kho phép tắc truyền miệng. Chỉ cầu vồng thì đứt tay. Nuốt hột ổi thì cây mọc trong bụng. Huýt sáo ban đêm thì rắn tới. Còn muốn biết bơi thì cho chuồn chuồn cắn. Cái gì cũng nghe kỳ, mà cái gì cũng làm người ta vừa sợ vừa ham.
Bữa đó chuồn chuồn bay nhiều. Mấy con cánh mỏng như miếng kiếng, thân xanh, thân đỏ, đậu trên cọng cỏ, trên nhánh ô rô, trên đầu cây cọc. Anh Ba lội vô bờ, chụp một cái đã bắt được con chuồn chuồn ớt. Nó nằm gọn trong tay anh, hai cánh rung rung, cái đầu nhỏ xíu ngọ nguậy.
Anh đưa lại gần tôi:
– Đây. Ông thầy dạy bơi.
Tôi giấu tay sau lưng.
– Hổng được đâu. Đau lắm.
Con Lan đứng cười:
– Nhát quá. Cắn chút xíu à.
Vừa nói xong, nó bị thằng Lượm chụp tay, đưa con chuồn chuồn khác lại. Con nhỏ la oai oái:
– Đừng! Đừng! Má ơi!
Chuồn chuồn cắn một cái. Nó giật tay, nước mắt lưng tròng. Đám con nít cười nghiêng ngả. Mấy đứa nhóc nhỏ hơn tưởng thiệt, cũng xin cho cắn. Có đứa bị cắn đỏ rúng cả mu bàn tay, vừa đau vừa khoe:
– Mai mốt tao biết bơi trước cho coi.
Tới phiên tôi, anh Hai nói:
– Mầy muốn biết bơi hông?
Tôi không trả lời.
Anh nhử:
– Không biết bơi thì mai mốt tụi tao ra xa, mầy ở bờ giữ đồ.
Câu đó nghe đau hơn chuồn chuồn cắn. Tôi chìa tay ra. Anh Ba đưa con chuồn chuồn tới. Nó cắn một cái nhói điếng. Tôi la lên:
– Á!
Cả bến cười. Chỗ da đỏ lên một chấm nhỏ. Tôi vừa đau, vừa quê, vừa tức. Trong bụng tự nhiên có cái gì bật dậy. Có lẽ người ta lớn lên nhiều khi không phải vì được khuyên nhủ dịu dàng, mà vì bị chọc quê đúng lúc.
Tôi nói:
– Thử lại.
Anh Hai nhìn tôi, cười:
– Vậy mới được chớ.
Lần này, anh đứng cách tôi chừng mấy thước. Anh Ba đứng gần bên, đề phòng. Bọn con nít im lại, như chờ coi một chuyện lớn. Bà Tư cũng ngừng tay giặt. Chú Năm chống nạnh, đôi thùng thiếc đặt bên chân.
Anh Hai ngoắc:
– Bơi tới đây. Có tao đây, sợ gì.
Tôi hít một hơi. Nước mát ôm quanh ngực. Bùn non dưới chân mềm như muốn giữ lại. Tôi úp mặt xuống nước.
Ban đầu chỉ nghe ù ù. Rồi lạnh. Rồi tối. Tôi đạp chân, quạt tay, nhớ lời anh nói. Một cái. Hai cái. Nước lại xộc vô mũi. Tôi hoảng, ngẩng đầu lên. Đúng lúc đó chân tôi hụt khỏi chỗ bùn cạn. Dòng nước đẩy tôi xéo ra ngoài. Không xa bao nhiêu, nhưng tôi thấy mình bị kéo khỏi cả thế giới.
– Anh Hai!
Tiếng tôi vỡ ra, vừa kêu vừa nuốt nước. Hai tay quơ loạn. Mặt sông chao đảo. Bờ bỗng lùi lại. Những tiếng cười tắt ngang. Tôi thấy con Lan đứng sững, thấy thằng Lượm há miệng, thấy bà Tư quăng cái áo xuống thau.
– Trời ơi, coi chừng thằng nhỏ!
Một bàn tay chụp lấy nách tôi. Rồi một bàn tay nữa đỡ sau lưng. Anh Hai và anh Ba kéo tôi vô. Tôi bám chặt lấy anh Hai, run như con chim mắc mưa. Khi chân chạm lại bùn gần bờ, tôi ho sặc sụa. Nước mũi, nước mắt, nước sông chảy lẫn lộn. Cái cổ rát, cái ngực đau, mà lòng thì mắc cỡ tới muốn biến mất.
Không ai cười nữa.
Anh Hai vuốt nước trên mặt tôi:
– Có sao hông?
Tôi lắc đầu. Nước mắt vẫn trào ra. Tôi không muốn khóc, nhưng nó cứ ra. Có lẽ vì sợ. Có lẽ vì quê. Cũng có lẽ vì trong giây phút chới với đó, tôi mới biết cái bờ thân thuộc quý chừng nào. Biết bàn tay anh mình chắc chừng nào. Biết mấy tiếng la rầy của người lớn không phải chỉ để chửi cho đã miệng, mà còn là một vòng tay khác của xóm làng.
Bà Tư bước lại, tay còn dính bọt xà bông:
– Thấy chưa con. Sông nước hổng giỡn mặt được đâu. Tập thì tập, mà đừng làm gan quá.
Chú Năm nói thêm, giọng bớt đùa:
– Biết bơi cũng phải biết sợ. Người nào hổng biết sợ con nước, con nước nó dạy cho một bài đau lắm.
Hồi đó tôi từng được nghe những lời dặn dò ấy mà lòng vẫn còn hờ hững, thực sự chưa thể thấm thía hết ý nghĩa sâu xa ẩn chứa bên trong. Phải mãi cho đến tận sau này, khi đã trưởng thành và nếm trải nhiều sóng gió, câu nói đó mới nhiều lần vang vọng trở lại, ám ảnh và day dứt khôn nguôi trong tâm trí tôi. Hóa ra, ngay cả khi đã biết bơi thành thạo, người ta vẫn cần phải biết sợ hãi trước sự mênh mông và dữ dội của dòng nước. Trong hành trình học cách sống ở đời cũng hoàn toàn tương tự như vậy. Có những nỗi sợ hãi không hề làm chúng ta trở nên nhỏ bé hay hèn nhát đi. Ngược lại, chính cái sự biết sợ đúng lúc đó sẽ giữ cho bản sắc của mình còn nguyên vẹn, giúp ta tỉnh táo để luôn biết đâu là con đường đúng đắn mà quay trở vào bờ an toàn..
Anh Hai để tôi ngồi lại trên bờ cỏ một lát để nghỉ ngơi cho lại sức. Những luồng gió từ phía mặt sông cứ liên tục thổi qua, mang theo hơi nước lành lạnh làm da thịt tôi nổi hết gai ốc. Dưới bầu trời cao rộng, những tia nắng rực rỡ vẫn trải dài vàng óng ả trên mặt nước đang lấp lánh gợn sóng. Đám bạn ngồi quanh tôi, tự nhiên hiền khô. Con Lan bẻ nửa trái ổi xanh, đưa qua:
– Ăn hông?
Tôi cầm lấy. Trái ổi chát nghét, chấm chút muối ớt thì xé lưỡi, vậy mà lúc đó thấy ngon. Ngon vì có người đưa. Ngon vì mình vừa sợ chết điếng mà vẫn còn ngồi đây, còn nghe gió, còn thấy sông.
Một hồi sau, anh Ba hỏi:
– Còn tập nữa hông?
Tôi nhìn xuống phía bến sông quen thuộc. Con sông bây giờ đã quay trở lại vẻ hiền hòa, tĩnh lặng vốn có của nó, trông cứ như thể nó chưa từng trỗi dậy cuồng nộ hay làm cho tôi một phen kinh hồn bạt vía đến thế. Những khóm hoa lục bình tím ngắt vẫn thong dong lững lờ trôi theo dòng nước ngược xuôi. Đàn chuồn chuồn với đôi cánh mỏng tang vẫn cứ chao liệng, bay là là sát trên mặt nước như đang đùa giỡn với nắng chiều. Chú Năm cũng đang lúi húi lựa chọn chỗ nào có dòng nước trong trẻo nhất để múc cho đầy đôi thùng thiếc nặng trĩu mang về dùng. Mặt nước dập dềnh vỗ nhẹ vào bờ đất, âm thanh ấy vang lên nghe thật êm tai và dịu dàng như đang vỗ về, dỗ dành.
Tôi đáp nhỏ:
– Tập.
Anh Hai nhìn tôi hơi lâu. Lần này anh không cười chọc. Anh chỉ nói:
– Ừ. Từ từ. Đừng gồng. Nước nâng mầy lên, chớ hổng phải lúc nào cũng kéo mầy xuống đâu.
Câu đó, kỳ lạ thay, làm tôi bớt sợ. Tôi bước xuống nước lại. Bùn non mát dưới chân. Anh Hai đỡ dưới bụng tôi, anh Ba đứng phía trước. Tôi nằm xuống, cố thả người mềm hơn. Tay quạt chậm. Chân đạp đều. Tôi vẫn uống thêm chút nước. Vẫn sặc. Nhưng không la bỏ cuộc nữa.
Tôi bơi từ tay anh Hai tới tay anh Ba.
Rồi từ anh Ba về anh Hai.
Khoảng cách chỉ vài thước. Nhưng với tôi, đó là một khúc sông rất dài. Dài bằng nỗi sợ vừa được đi qua. Dài bằng tiếng gọi của anh. Dài bằng tiếng la của bà Tư. Dài bằng vết chuồn chuồn cắn đỏ trên tay. Dài bằng một buổi trưa quê nghèo mà sau này tôi nhớ hoài không dứt.
Chiều đó, tôi chưa thành người bơi giỏi. Tôi vẫn chưa dám ra xa. Nhưng khi chạm chân vô bùn, đứng dậy thở hổn hển, nghe thằng Lượm la:
– Biết bơi rồi! Biết bơi rồi!
Tôi thấy mình lớn thêm chút xíu.
Không có ai trao bằng. Không có ai ghi ngày tháng. Chỉ có bến sông ghi nhớ bằng cách lặng lẽ để nước vỗ vào bờ. Chỉ có tuổi thơ ghi nhớ bằng tiếng cười trở lại. Chỉ có tôi, nhiều năm sau, mỗi khi gặp một dòng nước, vẫn nhớ cái cảm giác lần đầu mình nổi lên giữa sông quê.
Bây giờ, bến sông ngày đó chắc không còn nguyên. Bờ có thể đã sạt. Cây cọc có thể đã mục. Bãi bồi có thể đã trôi về đâu đó theo mùa nước. Các anh tôi không còn là mấy thằng nhỏ đen nhẻm đứng dưới sông dạy em bơi. Thằng Lượm, con Lan, bà Tư, chú Năm với đôi thùng thiếc, mỗi người một ngả, người còn người mất, người gần người xa. Cái bến đông đúc một thời giờ chỉ còn nằm trong trí nhớ.
Vậy mà có bữa, nghe một đứa trẻ ở đâu cười giòn trên sông, tôi bỗng thấy trưa cũ hiện về sáng rực.
Tôi thấy mình đứng run dưới nước. Thấy anh Hai dang tay kêu: “Bơi tới đây.” Thấy anh Ba cười mà mắt vẫn coi chừng. Thấy con chuồn chuồn cánh mỏng chập chờn trên ngọn cỏ. Thấy bà Tư la um lên vì nước đục. Thấy chú Năm chửi te tát rồi vẫn đứng lại ngó. Thấy con Lan chìa nửa trái ổi xanh. Thấy cả khúc sông ồn ào, đục ngầu, chan chứa một thứ tình quê không cần nói ra.
Tôi ước có một lần được về lại bến cũ.
Không phải tìm về để đắm mình dưới dòng sông như những ngày xưa cũ. Tuổi tác nay đã khác, cuộc đời cũng đã trải qua bao thăng trầm đổi thay. Tôi giờ đây chỉ muốn đứng lặng yên trên mé bờ, khẽ cúi xuống để bàn tay được chạm vào làn nước mát lành. Tôi muốn tự mình kiểm chứng xem nước sông liệu có còn giữ được cái vị mát rượi như trong ký ức tuổi thơ hay không. Tôi muốn lắng nghe và cảm nhận thử xem lớp bùn lầy dưới chân mình có còn giữ được vẻ mềm mại, êm ái như thuở nào. Tôi muốn đứng đó, thì thầm hỏi dòng sông thân thuộc rằng: “Hồi đó, người đã khiến con bao phen khiếp vía, sợ muốn chết. Nhưng cũng chính người đã dạy cho con bài học về cách tự mình nổi lên giữa sóng nước, phải hông?”
Ở đời, có khi người ta nhớ nhất không phải những lúc mình giỏi giang, mà là lúc mình chới với. Vì trong lúc chới với, ta thấy rõ bàn tay nào kéo mình lại. Thấy rõ tiếng gọi nào giữ mình khỏi chìm. Thấy rõ cái bờ nào là bờ của mình.
Bến sông quê hương ngày ấy không chỉ đơn thuần là nơi dạy tôi những sải tay bơi lội đầu đời, mà sâu xa hơn, nó đã kiên nhẫn dạy tôi bài học quý giá về cách đối diện và đi qua nỗi sợ hãi của chính mình. Để có thể biết bơi và làm chủ được dòng nước, con người ta nhất định phải trải qua những lúc sặc nước, uống nước đến đắng ngắt cổ họng. Tương tự như vậy, muốn thực sự trưởng thành và vươn xa, mỗi người phải có đủ dũng khí để rời bỏ mé bờ bình yên, dấn thân vào những nơi thăm thẳm. Muốn sinh tồn và đứng vững giữa dòng đời vạn biến, ta cần ghi nhớ sâu sắc rằng làn nước có thể nâng đỡ thân mình, nhưng đồng thời ta cũng phải giữ lòng khiêm cung và biết kính sợ trước sức mạnh tiềm tàng của con nước mênh mông.
Và phải nhớ những bàn tay.
Bàn tay anh em.
Bàn tay xóm giềng.
Bàn tay quê hương.
Những đôi bàn tay ấy, có đôi khi mang vẻ thô ráp vì sương gió, đôi khi lại hay tinh nghịch chọc ghẹo hoặc nghiêm khắc rầy la mỗi khi ta mắc lỗi, nhưng chính vào những thời điểm ta lỡ bước hụt chân hay đối mặt với gian truân, chúng lại luôn là những bàn tay sẵn sàng đưa ra nâng đỡ ta một cách nhanh chóng và kịp thời hơn bất cứ ai khác trên đời.
Cho nên, mỗi khi đời xô tôi ra xa bờ, tôi lại nghe tiếng anh Hai từ một buổi trưa rất cũ vọng về:
– Bơi tới đây. Có tao đây mà sợ gì.
Và tôi lại đạp chân.
Lại quạt tay.
Lại cố nổi lên.
Cũng giống như những ngày tháng khi tôi còn nhỏ, khi thường xuyên quanh quẩn bên bến sông hiền hòa và thơ mộng của vùng đất Tân Quới, nơi mà hình ảnh một con chuồn chuồn bé xíu chao liệng trên mặt nước, cảm giác khó quên của một ngụm nước sông mát lạnh nhưng làm cay nồng nơi sống mũi, cùng với một tiếng chửi quê mùa thân thương và hơi ấm từ một vòng tay anh em gắn kết đã cùng nhau viết nên những bài học đầu đời quý giá mà tôi chắc chắn sẽ không bao giờ có thể quên được trong suốt cuộc đời mình.
Phạm Quỳnh Anh





