Cù Lao Tây, ngày….tháng….năm ….
Tuổi thơ tôi có một bến sông.
Nói “một bến sông” nghe như đơn sơ lắm, nhưng với đứa trẻ lớn lên ở Tân Quới, Cù Lao Tây, Đồng Tháp xưa, bến sông không chỉ là chỗ để bước xuống nước. Nó là sân chơi, là trường học, là chiếc gương lớn soi bóng mây trời, là nơi những buổi trưa hè dài ra tưởng không bao giờ hết. Bến sông là cái lòng rộng của quê hương, nơi đất, nước, người và tuổi thơ gặp nhau trong tiếng cười trong veo của một thời chưa biết buồn lâu.
Mùa nước lớn, dòng sông như đổi tính. Nó không còn là con sông lặng lẽ nằm dưới mé vườn, hiền lành đưa xuồng ghe qua lại, mà trở nên đầy đặn, mênh mang, nặng phù sa. Nước dâng lên sát những bờ cỏ, những gốc cây, những bậc đất xuống bến. Màu nước không trong, cũng chẳng xanh. Nó đục ngầu, vàng nâu, như mang theo cả ruộng đồng, bãi bồi, rễ cây, lá mục và hơi thở của mưa nguồn. Lục bình trôi lững lờ, có khi kết thành từng đám, bông tím phập phều trên mặt nước. Một nhánh cây khô cũng có thể lênh đênh như chiếc ghe nhỏ. Có khi nước vỗ nhẹ vào bờ, nghe lóc bóc, lóc bóc, như ai thì thầm gọi lũ trẻ chúng tôi ra chơi.
Với người lớn, mùa nước lớn là mùa phải lo. Lo bờ sạt. Lo nước xiết. Lo xuồng ghe. Lo trẻ con té sông. Nhưng với chúng tôi, nước lớn là mùa của niềm vui. Chỉ cần nghe ai đó ngoài ngõ la lên: “Nước lên rồi!” là cả bọn như ong vỡ tổ. Đứa đang nằm trên bộ ván cũng bật dậy. Đứa đang ăn cơm thì nuốt vội. Đứa bị má sai việc thì làm cho lẹ. Rồi từng đứa, từng đứa kéo nhau ra bến, chân trần chạy trên đường đất nóng, bụi bám trắng gót chân, miệng cười vang trước khi chạm tới nước.
Bến sông ngày ấy không có cầu xi măng chắc chắn, không có lan can, không có những bậc đá thẳng thớm như bây giờ. Nó chỉ là những bậc đất được bước chân người đi riết mà thành. Chỗ nào trơn thì lấy cây chống. Chỗ nào lở thì né. Chỗ nào bùn mềm thì lún xuống một chút rồi lại quen. Bến có mấy cây cọc cắm để cột xuồng. Có cái cầu ván nhỏ, cũ, khi bước lên kêu kẽo kẹt. Có bụi ô rô hay đám cỏ mọc sát mé nước. Có những dấu chân người lớn xuống giặt đồ, rửa rau, vo gạo. Và có cả những dấu chân trẻ con chúng tôi, lộn xộn, hớn hở, không biết giữ gìn gì ngoài niềm vui trước mặt.
Trưa hè, nắng như đổ lửa xuống mái nhà, xuống sân đất, xuống những tàn tre. Không khí đứng im. Tiếng ve râm ran đâu đó trong vườn. Người lớn ăn cơm xong thường nằm nghỉ, cái quạt mo phe phẩy chậm rãi. Còn chúng tôi chỉ chờ lúc yên yên là lẻn ra bến. Có khi má rầy: “Trưa nắng xuống sông coi chừng cảm!” Nhưng tiếng sông gọi mạnh hơn lời rầy. Trẻ con miền sông nước, hễ thấy nước là chân không chịu ở yên.
Chúng tôi nhảy ùm xuống. Nước văng tung tóe. Cái nóng của buổi trưa lập tức tan ra. Thân thể nhỏ bé được nước ôm lấy, mát lạnh, dịu dàng. Có đứa biết bơi giỏi, lặn một hơi qua tới chiếc xuồng đang neo. Có đứa mới tập, cứ bám mé bờ, chân đạp bùn, tay quờ quạng. Có đứa chỉ thích ngâm mình, để nước tới cổ, cái đầu nổi lên như trái dừa khô. Tiếng cười, tiếng la, tiếng gọi nhau vang cả khúc sông.
Chúng tôi thi nhau lặn. Đứa nào nín thở lâu nhất thì được khen là “dữ”. Có đứa lặn xuống rồi trồi lên ở một chỗ khác làm cả bọn tưởng mất tiêu. Có đứa mò dưới bùn bắt được con hến, con ốc, giơ lên như chiến lợi phẩm. Có đứa nghịch, lén nắm chân bạn kéo một cái, làm bạn hoảng hồn la oai oái. Tất cả những trò ấy bây giờ nghĩ lại rất đỗi bình thường, có khi còn nguy hiểm. Nhưng trong ký ức, chúng sáng lên bằng ánh sáng của một thời thân thể còn thuộc về đất nước, còn biết vui vì những điều rất nhỏ.
Bến sông không chỉ cho chúng tôi nước mát, mà còn dạy chúng tôi biết dòng chảy. Lúc nhỏ, tôi chưa hiểu đời người cũng giống con nước: khi lớn, khi ròng, khi đầy, khi cạn, khi hiền, khi dữ. Tôi chỉ biết đứng ở bến nhìn nước trôi và thấy lòng mình bị cuốn theo. Nước mang đi những cánh lục bình, những chiếc lá tre, những miếng bèo, những vệt nắng vỡ trên mặt sông. Có khi tôi tự hỏi: nước này từ đâu tới, rồi sẽ đi đâu? Một câu hỏi trẻ con không ai trả lời cặn kẽ, nhưng nó nằm lại trong lòng rất lâu. Sau này lớn lên, đi qua nhiều biến động, tôi mới hiểu: có những điều ta tưởng là của mình, nhưng thật ra chỉ ghé qua đời ta như một đám lục bình mùa nước nổi.
Bến sông mùa nước lớn cũng là nơi tôi học cảm giác thuộc về quê hương. Không ai cần giảng cho tôi thế nào là Tân Quới, thế nào là Cù Lao Tây. Chỉ cần bước xuống bến, chạm chân vào bùn non, nghe nước vỗ vào bờ, thấy những bóng dừa nghiêng trên sông, thấy chiếc xuồng ba lá buộc bên cọc, nghe tiếng người bên kia bờ gọi nhau, là tôi biết mình thuộc về nơi này. Quê hương không phải một khái niệm. Quê hương là cái bùn dính dưới chân mà ta không ghét. Là dòng nước đục mà ta vẫn thấy thương. Là bến sông nghèo mà đi xa rồi mới biết không nơi nào thay thế được.
Có những buổi chiều nước lớn, trời chuyển màu vàng mật. Mặt trời rớt dần xuống sau hàng cây, ánh sáng trải dài trên sông thành những vệt lấp lánh. Chúng tôi tắm xong, ngồi trên bờ, người còn ướt, tóc nhỏ nước xuống vai. Da dẻ phơi nắng, mắt đỏ vì nước, bụng đói cồn cào. Xa xa có tiếng mái chèo khua nhịp. Mấy bà giặt đồ vừa xả áo vừa nói chuyện. Khói bếp bắt đầu lên từ những mái nhà. Mùi cơm chiều, mùi cá kho, mùi rơm ẩm, mùi bùn sông hòa vào nhau, thành mùi của một đời không thể quên.
Bây giờ, bến sông ấy có lẽ không còn như xưa nữa. Có thể bờ đã sạt. Có thể người ta đã làm lại bến mới. Có thể cây cọc cũ đã mục từ lâu. Những dấu chân trẻ thơ của chúng tôi chắc đã bị nước xóa sạch. Nhưng trong lòng tôi, bến sông vẫn còn. Nước vẫn lớn. Đám bạn vẫn cười. Tôi vẫn là đứa trẻ ngâm mình dưới bến, tưởng mình đang chơi, nhưng thật ra đang được quê hương ẵm bồng lần cuối trước khi lớn lên và rời xa.
PHẠM QUỲNH ANH





