“Vẫn biết trên cõi đời thường yêu thường mơ lứa đôi” | Chuyện phiếm Đạo/Đời

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 31 mùa thường niên năm C 30.10.2016

“Vẫn biết trên cõi đời thường yêu thường mơ lứa đôi”
Nếu biết sống giữa trời tình yêu là con nước trôi
Trôi lang thang qua từng miền
Lúc êm ái xuôi đồng bằng.
Cũng có lúc thác gập ghềnh chia từng con nước xuôi
Mời bạn nghe chuyện thê lương
Khóc cho người lỡ yêu đương
Trời già nhưng còn ghen tương
Cách chia người trót thương.”
(Trần Thiện Thanh – Chuyện Tình Mộng Thường)

(Tôbia 12:15)

Đây là chuyện tình thời chinh-chiến khói lửa của thiếu-uý Biệt Động Quân tên là Phạm Thái với người con gái nhỏ phương xa là tiếp viên hàng không Air Vietnam xinh đẹp tên là Nguyễn Thị Mộng Thường.

Thôi thì, trích dẫn bài ca nói về chuyện tình da diết thời chiên-chinh cũng để mời bạn và cũng mời tôi, ta nghe thêm đôi giòng nhạc khá lỉnh kỉnh kiểu Nhật-Trường/Thiên-Thanh ở một thời cũng rất “chiến”, như sau đây:

Em xinh em tên Mộng Thường Mẹ gọi em bé ngoan.
Em xinh em tên Mộng Thường cha gọi em bé xinh.
Đến lúc biết mơ mộng như những cô gái xuân nồng.
Nàng yêu anh quân nhân Biệt Động trong một ngày cuối đông.
Chuyện tình trong thời giao tranh vẫn như làn khói mong manh.
Chàng về đơn vị xa xăm nàng nghe nặng nhớ mong.

Yêu nhau lúc triền miên khói lửa.
Chuyện vui buồn ai biết ra sao.
Nhìn quanh mình sao lắm thương đau.
Khi không thấy người yêu trở lại.
Tình không tìm ra dấu ban mai.
Người không tìm ra dấu tương lai.
Nhưng không chết người trai khói lửa.
Mà chết người em nhỏ phương xa.
Một đêm buồn có gió đông qua.

Xin cho yêu trong Mộng Thường
nhưng mộng thường cũng tan.
Xin cho đi chung một đường
sao định mệnh chắn ngang.
Xin ghi tên chung thiệp hồng

bỗng giây phút nghe ngỡ ngàng.
Cô dâu chưa về nhà chồng
Ôi lạnh lùng nghĩa trang.
Chàng thề không còn yêu ai
dẫu cho ngày tháng phôi phai.
Nhiều lần chàng mộng liêu trai
Chàng hẹn nàng kiếp mai…”
(Trần Thiện Thanh – bđd)

Khởi đầu chuyện phiếm hôm nay, có vị gửi về bần đạo một đề-nghị cho đăng bài viết của một bé học sinh lớp 9b ở Hải Dương Việt Nam là Nguyễn Thị Thu Trang, viết bài đoạt giải như sau:

“Thiên đàng, ngày 1/1/2016.
Xin gửi lời chào tới anh bạn tương lai của tôi!
Vậy là đã gần bốn tháng kể từ ngày tôi rời xa dương thế. Có lẽ sự từ giã trần thế quá sớm khiến tôi trưởng thành hơn để hôm nay tôi viết bức thư này cho anh. Tôi – bé Aylan Kurdi 3 tuổi người Syria – được cả thế giới biết đến với giấc ngủ vĩnh hằng trên bờ biển Bodrum Thổ Nhĩ Kỳ, viết cho anh – là tôi của tuổi 45 còn sống nơi trần thế.

Nghe có vẻ vô lý anh nhỉ? Tôi đã chết thì làm gì có anh! Nhưng tại sao lại không thể khi mọi thứ đều trong một giấc mơ – cả tôi và anh. Những thiên thần sẽ giúp tôi gửi bức thư này đến anh.

Anh bạn thân yêu! Giờ đây tôi đang ở trên thiên đàng – một thế giới kì diệu lung linh biết mấy. Nơi này chẳng có ngày hay đêm. Mặt trời, vầng trăng và cả những vì sao lấp lánh cùng nhau tỏa sáng, không gian lúc nào cũng trong veo như pha lê. Mẹ và anh trai tôi đang mỉm cười cùng những linh hồn khác. Chúng tôi không có quốc gia, không phải di cư, không phân biệt tôn giáo, không có khủng bố hay bạo lực… Tất cả đều như nhau – những linh hồn bay nhẹ nhõm, thanh thản và bình yên.

Giờ đang là giao thừa. Từ trên đây, chúng tôi có thể ngắm nhìn cả trái đất. Ngắm nhìn những chùm pháo hoa lộng lẫy bung nở trong màn đêm và lắng nghe tiếng chuông ngân vang. Dưới đó là những mảng màu tương phản. Có những nơi rực rỡ trong ánh sáng, lại có những mảng tối im lìm đâu đó. Tiếng chuông lẫn trong tiếng súng, hạnh phúc ở cùng với bất hạnh, thù hận đi liền với tình yêu… Chao ôi, cuộc sống nơi trần thế! Giờ thì tất cả đã quá xa vời.

Anh bạn tuổi 45 ơi, anh còn nhớ chứ! Chúng ta theo cha mẹ chạy trốn khỏi chiến tranh và bạo lực đẫm máu nơi quê nhà Kobani với giấc mơ về “miền đất hứa” ở trời Âu. Vậy mà, giấc mơ ấy chấm dứt chỉ 20 phút sau khi chiếc thuyền khởi hành. Biển dậy sóng, thuyền lật úp, bàn tay bé nhỏ của tôi buông rời tay mẹ. Tôi đã hét lên: “Bố ơi, xin đừng chết!”. Tôi đã vật lộn với những con sóng, đã cố bấu víu lấy sự sống mong manh, đã vẫy vùng trong tuyệt vọng.

Nhưng đứa bé ba tuổi thì có thể làm gì được giữa biển cả mênh mông trong đêm tối mịt mù? Và rồi… biển cả rộng mở đón tôi vào lòng. Biển cả cũng rất khoan dung khi thay vì nhấn chìm tôi đã đưa tôi vào bờ, nằm yên trên nền cát. Hẳn anh còn nhớ hình ảnh của tôi khi ấy. Bé bỏng. Áo màu đỏ và quần xanh lam. Chân đi giày. Hai tay xuôi theo chiều chân. Tôi nằm yên trên bãi biển. Mặt úp xuống bờ cát hiền hòa như đang say ngủ. Xung quanh, những con sóng vỗ về. Một giấc ngủ dài. Vĩnh viễn.

Hình ảnh tôi được chia sẻ rộng rãi trên các trang mạng xã hội và các phương tiện truyền thông. Họ đã nói những gì? “Thảm họa nhân đạo mang tính toàn cầu”, “Biểu tượng của nỗi đau mà người dân Syria phải hứng chịu cũng như nỗ lực tuyệt vọng để thoát khỏi nỗi đau ấy” rồi “khiến thế giới câm lặng” hay “thức tỉnh lương tri”.

Và người ta còn vẽ lên bức hình tôi đôi cánh của thiên thần. Đây, dĩ nhiên không phải là cách người ta “cường điệu hóa” hay “thi vị hóa” một cái chết. Đây là sức lay động từ một cái chết và là cách người ta làm dịu lại nỗi đau. Nhưng dù thế nào đi nữa thì một sự thật vẫn luôn hiện hữu. Một cuộc đời đã chấm dứt. Đứa trẻ mãi mãi tuổi lên ba. Tôi và gia đình đã sống sót qua mưa bom bão đạn ở Syria bất ổn, nhưng lại bỏ mạng khi đang trên đường tìm một nơi bình yên khác để sống. Cái chết quá sức đau đớn và quá sức vô lý.

Chao ôi, 3 năm – một cuộc đời! Giá không có chiến tranh và bạo lực; giá tôi được đi trên chiếc thuyền chắc chắn hơn; giá bố mua được cho tôi chiếc áo phao; giá các nước châu Âu mở rộng đường biên giới; giá như… thì có lẽ tôi đã không phải chết!

Giờ thì thân xác tôi đã được trở về nơi quê nhà. Một hành trình trở về đất mẹ gian truân, nhọc nhằn. Nhưng là trở về sau khi đã chết. Trở về cái nơi tôi đã tháo chạy. Trở về chỉ đề nằm dưới lòng đất. Đúng là một kiếp người dạt trôi, một phận người bèo bọt!

Nhưng anh ạ, dù sao thì tôi cũng được nhiều người biết đến, được an ủi. Còn hàng nghìn, thậm chí hàng triệu cái chết khác thì sao? Hàng nghìn người di cư đã bỏ mạng khi vượt Địa Trung Hải, hàng nghìn đứa trẻ đã chết vì đói, vì rét, vì bệnh tật, hàng trăm người đã chết vì khủng bố. Có những người biết là sẽ chết khi phải vượt biển di cư nhưng không làm khác được.

Một người đồng hương Syria của tôi đã viết thế này trước khi chết chìm anh ạ “Cảm ơn biển cả đã chào đón chúng tôi mà không đòi hỏi visa… mà không hỏi tôn giáo của tôi là gì…”. Thế đấy, có những cái chết được người ta xoa dịu. Có những cái chết được người ta tưởng nhớ. Nhưng cũng có cái chết bị bỏ rơi, quên lãng. Chao ôi, chỉ có chết mới hết bất công sao? Hay đến chết cũng chưa hết bất công?

Và từ nơi đây, từ trong đau đớn, tột cùng của một đứa trẻ đã chết, từ trong yên bình, nhẹ nhõm nơi thiên đàng, tôi viết thư cho anh – là tôi, 45 tuổi còn sống nơi trần thế. Anh sẽ hỏi sao không phải một độ tuổi nào khác? Anh bạn, tôi chọn anh – tuổi 45 – là bởi khi ấy ta đã định vị được bản thân trong cuộc đời. Khi tôi 45 tuổi, còn sống – là anh – ta sẽ thế nào nhỉ? Một ông bố? Một công chức bình dân? Hay một nhân vật có khả năng thay đổi thế giới?

Anh biết đấy, Steve Jobs của Apple cũng là con một người di cư. Và ta sẽ sống ở đâu? Trở về quê hương Syria hay ở miền đất hứa trời Âu? Thế giới khi ấy sẽ ra sao? Có như thiên đàng tôi đang sống không? Tuổi 45 ngỡ sẽ đến như một lẽ tự nhiên ư?

Không! Có những tuổi 45 mãi mãi chỉ là ước mơ không thành hiện thực. Ai sẽ cho tôi và những đứa trẻ như tôi tuổi 45? Ai sẽ cho chúng tôi cuộc đời? Làm sao để tất cả mọi người đều có tuổi 45, tuổi 55 và hơn thế nữa? Câu hỏi ấy ai sẽ trả lời cho tôi – thưa anh!

Thân ái!
Tôi – là anh từ trên thiên đàng”. (Theo Infonet)

Bài viết của người trẻ hôm nay, thoạt nghe đã thấy lạ. Lạ ở chỗ, bé em học trò đây viết không thua gì người lớn cả xác lẫn hồn và lớn cả tư-tưởng lẫn những tư-duy tưởng chừng chừng như đã mai một dần với thế-hệ cao niên dần dà biến mất. Không phải thế. Phải nói rằng thế-hệ già trẻ một ngày kia rồi cũng sẽ biến mất, nhưng tử-tưởng chín mùi sẽ còn tồn tại mãi mãi, chẳng biến dạng.

Suy-tư những giòng chảy như thế, lại khiến bần đạo bầy tôi đây nghĩ nhiều về các thế hệ trẻ mãi đến sau này. Một thế-hệ không còn tin vào những chuyện tưởng chừng như “không tưởng”, như không còn tưởng-nghĩ như người xưa nữa.

Cũng thế, ở nhà Đạo thời hôm nay, còn ai đâu mà tin vào chuyện thiên-thần với thần-sứ mà đức thày John Flader lại đặt vấn-đề “Thế nào là thiên-thần và tổng-lãnh thiên-thần giữa các thánh”! Thôi thì, đức thày có viết lách cũng chỉ để phục-vụ các vị nay đã hết thời tin-tưởng vào những chuyện “không tưởng” tượng được như lời hỏi/đáp ở bên dưới:

“Thưa Cha,

Sao ta cứ gọi thần-sứ Gabriel và Raphael là “tổng-lãnh thiên-thần” mãi vậy? Và, tại sao Giáo-hội lại vẫn cử-hành mừng lễ các vị ấy mỗi năm, vậy chứ?” (Câu hỏi của một vị không ghi danh tánh)

Có ghi tên không, thì bạn và tôi ta cũng nghĩ là Đức Thày John Flader của The Catholic Weekly chế ra cho đầy mặt báo, chứ giờ này làm gì có ai thắc-mắc với vấn-nạn chuyện thần-thoại như thế. Thôi thì, các cụ đã tự hỏi, thì nay ta cứ xem các cụ trả lời/trả vốn ra sao, là được.

Và, đấng bậc vị vọng là Đức thày John Flader trả lời nhưng không trả vốn, như sau:

“Hệt như anh/chị vừa đề-cập ở câu hỏi, thường thì ta dung cụm-từ “thánh” là cho các vị sống lành/thánh hạnh-đạo rất gương mẫu, được Giáo-Hội công-nhận là bậc thánh-hiền, mà thôi. Nhưng, nếu hỏi: sao ta đưa cả các đấng bậc thiên thần nói ở trên vào cùng hàng với bậc lành/thánh như thế được? Câu trả lời chỉ chấp-nhận được nếu ta quay về với truyền-thống Giáo-hội kéo dài nhiều thế-kỷ, trong đó lại kể đến thần-sứ hoặc thiên-thần cùng bậc hiển-thánh có danh-xưng như thế cũng dễ hiểu.

Nếu gọi là thánh, tức: ám-chỉ các vị có cuộc sống thánh-thiện thì đương nhiên là các thần-sứ còn gọi là “tổng-lãnh thiên-thần” thì không thể thích-hợp như thế được. Điều này, lại càng không thể để ta bắt chước cuộc sống giống với thiên-sứ được. Bởi lẽ, các ngài chỉ là bậc linh-thiêng vốn có khả-năng làm những việc mà con người chúng ta không thể làm được. Tuy nhiên, ta vẫn có thể khẩn cầu các đấng can-thiệp cầu-bàu cho ta mỗi khi cần.

Thế còn, hỏi rằng tại sao ta lại mừng lễ các vị ấy mỗi năm, là làm sao? Thì, có thể trả lời rằng: mỗi vị như thế đều được nêu tên trong Kinh thánh, nên ta cũng nên đem lòng sùng kính các ngài như Giáo-hội có thói quen làm thế biết bao nhiêu năm trời nay.

Nói chung thì, các vị này đều là bậc lành thánh từng chống trả ma quỷ như sách Cựu Ước từng diễn-tả, bấy lâu nay. Đặc-biệt là thánh Mi-ca-e từng được nhắc đến nhiều lần ở sách Đanien đoạn 12 câu 1.

Ở Tân-Ước, thư thánh Giuđê gọi ngài là Tổng-lãnh thiên-thần từng đánh chống ác-thần quỷ dữ. Và, sách Khải-Huyền ở nhiều đoạn như đoạn 12 câu 7-9 còn kể chuyện thánh thiên-thần đây đạp dẹp loài rồng/rắn hãm hại cả và thế-gian nữa.

Riêng thánh Gabriel là Đấng thánh mang tên có nghĩa là “Quyền-uy sức mạnh của Thiên-Chúa” xuất-hiện cả ở Cựu Ước lẫn Tân-Ước, khi ngài cắt-nghĩa thị-kiến của tiên-tri Đanien như sách này từng nói ở các đoạn 8 câu 15-26 và đoạn 9 câu 20-27,vv… Đặc-biệt là ở Tân-Ước thán thiên thần này từng xuất-hiện với ông Zakaria để loan-báo việc sinh-hạ ra ông Gioan Tẩy Giả là do Chúa sắp-đặt.

Danh tánh của thánh thiên-thần Raphael có nghĩa “Thiên-Chúa chữa cho mọi người được lành/sạch” hoặc còn gọi là “Thuốc chữa của Thiên-Chúa”. Thánh thiên thần này xuất-hiện ở sách Tôbia từng tháp-tùng trê Tôbia trong hành-trình hoàn-trả tiền bạc còn thiếu nợ người cha của ông. Để rồi, cuối cùng bèn thốt lên những lời rằng:

“Tôi đây là Raphaen,
một trong bảy thiên-sứ luôn hầu-cận
và vào chầu trước nhan vinh-hiển
của Đức Chúa.” (Tôbia 12:15)

Vì được coi là thánh, nên đấng bậc đây cũng được mừng vào thế-kỷ thứ 16 ở nhiều địa-điểm được coi là nơi các ngài xuất-hiện. Theo lịch La Mã, thánh-nhân được mừng kính từ năm 1921. Mãi cho đến năm 1969, lễ này được mừng vào ngày 24 tháng 10. Và sau đó, được dời vào ngày 29/9 mỗi năm. Tắt một lời, truyền-thống Giáo-hội xưa nay vẫn trân-trọng sự thánh/thiêng của mỗi đấng, là như thế. (X. Lm John Flader, Why do we include angels and archangels among the saint, The Catholic Weekly 02/10/2016, tr. 26)                  

Nói cho cùng, thì: Giáo-hội có thói-quen sùng-kính/nguyện-cầu cùng các đấng bậc lành-thánh từng sống hoặc chết theo cung-cách hạnh-đạo, dù chỉ một số ít các ngài là người dấn bước theo chân Đức Kitô. Thế nhưng, theo Kinh/Sách, thì tất cả mọi tín-hữu đều được gọi là thánh, dù có vị thiếu trưởng thành về mặt thiêng-liêng hoặc kiến-thức lành/thánh nữa. Chẳng thế mà thánh Phaolô tông-đồ mỗi lần viết cho thành-viên giáo-đoàn khác nhau ở Rôma, Êphêsô hoặc Côrinthô hoặc nhiều nơi khác vẫn gọi tất cả tín-hữu Đức Kitô là các “thánh”.

Nói cho cùng, thì “thánh-nhân phải là những người đang còn sống thánh-thiện, hạnh-đạo chứ không thể là các đấng đã chết rồi, hoặc thần-sứ trên trời xuất-hiện ở nhiều nơi, như ta vẫn gọi. Nói cho cùng, thì tập-tục này khi xưa bắt nguồn từ đạo-giáo bên ngoài Đạo Chúa hoặc Do-thái-giáo dù có truyền-thống rất lâu đời.

Xem thế thì, ngoài Đạo Chúa ra, cũng có rất nhiều vị, nhiều đấng bậc từng sống rất hạnh-đạo, làm gương cho người đồng thời hoặc sau này theo đó mà bắt chước.

Bên ngoài Đạo Chúa của ta, lại cũng có rất nhiều truyện kể về nhân-sinh, cuộc sống mỗi con người đều khác nhau. Khác rất nhiều, dù chữ “thánh/thiêng” hoặc “thánh/thiện” “hạnh-đạo vẫn có nơi họ. Người đời gọi đó là cái “tâm” rất lành và cũng “mạnh”, như truyện kể để hầu người đọc tìm ra ý-nghĩa của mỗi sự việc trong đời người, như sau:

“Người phụ nữ nọ phải làm việc 8h/ngày lại còn chăm sóc gia đình và làm hết mọi công việc của một người nội trợ! Một ngày nọ cô mệt nhoài với hàng tá công việc ở cơ quan khiến cô có cảm giác như kiệt sức! Về nhà cô còn phải dọn dẹp nhà cửa và nấu ăn cho chồng và con của cô! Khi người chồng đón con từ trường về, cũng là lúc cho nướng xong mẻ bánh quy trong lò! Thế nhưng vì quá mệt nên cô đã để quên nó một lúc khiến cho một vài chiếc bị cháy!

Lúc ăn tối, đứa con quan sát xem có ai nói gì về những chiếc bánh cháy đó không nhưng chẳng có ai lên tiếng cả! Khi dọn bắt đĩa, người vợ ngỏ ý xin lỗi về những chiếc bánh cháy nhưng người chồng dịu dàng nói: có gì mà em phải xin lỗi chứ, hơn nữa mùi vị nhưng chiếc bánh ấy rất ngon! Người vợ mỉm cười hạnh phúc!

Khi đưa con đi ngủ, nó thì thầm hỏi bố nó:

– Có thật bố thích ăn bánh quy cháy không?

– Không con ạ, anh ta nói với con! Nhưng hôm nay mẹ con rất mệt mà vẫn phải chuẩn bị bữa ăn cho bố con chúng ta! Không nên làm mẹ buồn mà một vài chiếc bánh cháy có ảnh hưởng đến ai đâu. chứ!

Thế đấy, có bao nhiêu người không để ý đến một vài chiếc bánh cháy trên đĩa bánh? Không nhiều lắm phải không bạn! Cũng như vết mực đen trên tờ giấy trắng! Có lúc chúng ta chỉ biết nhìn vào những sai lầm, khuyết điểm của người khác để rồi lên tiếng chỉ trích mà quên rằng họ đã cố gắng rất nhiều! (Truyện kể trích từ điện-thư vi-tính)

Lại một truyện kể khác, nói rõ hơn về tâm-tánh cũng “rất thánh” của mỗi người, như sau:

Một thanh niên trẻ nọ đang muốn tìm kiếm sự thành công liền đến thỉnh-giáo vị thiền-sư từng dạy mình. Thiền sư liền đưa cho anh một hột đâu phộng rồi bảo:

– Con hãy dùng sức mà vê nát nó ra!

Người thanh niên dùng sức vê nát hạt lạc, vỏ hạt lạc bay ra và còn lại cái nhân.

Vị thiền sư lại nói với người thanh niên trẻ tuổi:

– Con hãy dùng tay chà xát hạt lạc này ra.

Người thanh niên lại làm theo và kết quả vỏ hạt lạc lại rơi ra và còn lại một hạt lạc trắng không có vỏ. Vị thiền sư lại bảo người thanh niên hãy dùng tay vê nát hạt lạc trắng đó ra, và bất luận anh ta dùng sức thế nào cũng không vê nát được nhân của hạt lạc ra.

Lúc này vị thiền sư mới nói:

– Mặc dù nhiều lần gặp phải trắc trở, và cũng bị mất mát rất nhiều, nhưng phải có một cái tâm không bị khuất phục mới mong thành công được!

Người thanh niên nghe xong và vui mừng vì hiểu được ý tứ của vị thiền-sư.” (Truyện kể cũng ráu từ một nguồn-gốc)

Xem thế thì, cứ gì phải là thiền-sư hay đấng bậc lành/thánh mới hạnh-đạo, đáng kính nể, để mọi người bắt-chước như đấng thánh. Xem thế thì, từ nay, hẳn cũng nên gọi nhau bằng các cụm-từ như: “Đấng thánh họ Nguyễn” “Thánh-nhần họ Trần”, chứ đâu chỉ mỗi Giuse hoặc Maria gì đó, mới là thánh-nhân hiền-lành trong Đạo!

Vậy thì, nay xin phép các thánh-nhân nam/nữ đang đọc mấy giòng chữ còn con này cho phép bần đạo được kết thúc ở đây với lời chào “rất thánh”, mãi mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai
Có những thời những buổi
Chẳng thấy mình thánh-hoá
hoặc “thánh goá” gì hết
Thế có chết không cơ chứ.